Tử Vi Việt

Kiến thức tử vi, tướng số và phong thuỷ Việt Nam

Cung Mệnh trong tử vi là gì? Luận giải chi tiết cung Mệnh và 3 điều ít người biết

· Đăng · Cập nhật · 12 cung

Trả lời ngắn

Cung Mệnh là một trong 12 cung của lá số tử vi, thể hiện bản chất, tính cách và xu hướng vận mệnh chủ đạo của một người. Muốn đọc đúng phải xét đồng thời chính tinh toạ thủ, cung Thân và cung xung chiếu. Đọc riêng cung Mệnh là đọc thiếu.

Trong 12 cung của một lá số, cung Mệnh là cung gốc. Mọi luận giải khác đều lấy nó làm điểm quy chiếu, nên đọc sai cung Mệnh thì phần còn lại đọc kiểu gì cũng lệch.

Cung Mệnh được xác định thế nào

Vị trí cung Mệnh tính ra từ hai dữ kiện: tháng sinh âm lịch và giờ sinh.

Giờ ở đây là giờ địa chi, mỗi giờ kéo dài hai tiếng đồng hồ. Bạn sinh lúc 23 giờ 05 là giờ Tý, sinh lúc 0 giờ 55 cũng vẫn giờ Tý, nhưng nhích sang 1 giờ 05 thì đã là giờ Sửu và cung Mệnh dịch đi một cung. Dịch một cung nghĩa là đổi chính tinh toạ thủ, đổi luôn cung xung chiếu và bộ tam hợp quy chiếu vào nó.

Băng 12 giờ địa chi từ Tý tới Hợi, mỗi giờ dài hai tiếng: 23h05 và 0h55 cùng nằm trong giờ Tý, 1h05 đã sang giờ Sửu
Hai mốc 23h05 và 0h55 cách nhau gần hai tiếng vẫn chung giờ Tý; 0h55 và 1h05 cách nhau mười phút lại khác giờ, và lá số đổi theo.

Nên người trong nghề hỏi giờ sinh trước tiên. Trước cả tên.

Nếu bạn không nhớ giờ, cách làm là dò ngược. Lấy vài biến cố lớn đã xảy ra và có mốc thời gian chắc chắn, thử lần lượt 12 giờ địa chi, xem lá số nào khớp với những gì đã xảy ra thật. Việc này mất thời gian và không phải lúc nào cũng cho kết quả dứt khoát.

Vì sao an mệnh lại đếm từ cung Dần

Thao tác an cung Mệnh gọn tới mức đáng ngờ.

Lấy cung Dần làm tháng Giêng, đếm thuận trên địa bàn cho tới tháng sinh âm lịch rồi dừng. Từ chính ô vừa dừng ấy, đếm nghịch tới giờ sinh. Ô cuối cùng là cung Mệnh. Xong bước đó mới tới lượt cục: ghép hàng can của năm sinh với địa chi của ô vừa tìm được là ra cục, và cục quyết định cả chỗ đóng của sao Tử Vi lẫn tuổi khởi đại vận.

Toàn bộ quy trình là đếm. Không có phép tính nào nặng hơn cộng trừ trên một vòng mười hai ô.

Nhưng vì sao khởi ở Dần chứ không phải ô khác? Vì sao tháng đếm thuận mà giờ lại đếm nghịch? Không ai trả lời được. Phần giảng nguyên lý đã mất từ lâu, và người dịch Toàn Thư khi gặp đúng câu hỏi này cũng chỉ ghi lại rằng đành tiếp tục chờ.

Tôi cho rằng chỗ này nên biết sớm nếu bạn định học sâu. Công thức vẫn chạy tốt, mất phần chứng minh không làm nó sai. Nó chỉ có nghĩa là khi ai đó giải thích cho bạn vì sao phải khởi từ Dần bằng một lý lẽ nghe rất xuôi tai, bạn hoàn toàn có quyền hỏi họ lấy lý lẽ ấy từ đâu.

Đọc cung Mệnh cần xét những gì

Bốn lớp, theo thứ tự.

  1. Chính tinh toạ thủ. Trong 14 chính tinh, sao nào đóng tại Mệnh sẽ dựng khung tính cách. Tra kèm luôn vị trí miếu hãm của sao đó, vì cùng một sao mà đứng sai chỗ thì khung ấy đổi hẳn.
  2. Phụ tinh và sát tinh. Cùng một chính tinh, có Tả Phù Hữu Bật đi kèm khác hẳn có Kình Dương Đà La.
  3. Cung xung chiếu. Cung đối diện qua tâm địa bàn, cho thấy mặt mà cung Mệnh không tự bộc lộ.
  4. Cung Thân. Nghiêng về nửa đời sau, và là chỗ các phái không thống nhất với nhau về mức độ quan trọng so với cung Mệnh.

Nếu bạn mới tự xem lá số của mình, gần như chắc chắn bạn sẽ dừng ở lớp một. Tra chính tinh, đọc đoạn mô tả tính cách kèm theo, thấy đúng, rồi dừng. Vấn đề là đoạn mô tả ấy đúng với hầu hết mọi người, vì nó được viết chung chung tới mức gần như không thể sai, và cái cảm giác “đúng quá” mà bạn có khi đọc nó thật ra không nói lên điều gì về lá số của riêng bạn. Ba lớp còn lại mới là chỗ một lá số tách khỏi lá số khác.

Nhưng lỗi tôi phải gỡ nhiều nhất lại không nằm ở lớp bốn. Nó nằm ở chính chữ Thân. Người mới thấy cung Thân là tra sang hàng chi năm sinh, rồi luận nhầm sang một cung khác hẳn. Thân ở đây là Thân Mệnh, không dính gì tới chi Thân trong mười hai con giáp. Ngay bản dịch Toàn Thư cũng phải dừng giữa mạch để nhắc lại điều đó, và người ta chỉ ngắt mạch như vậy khi biết chỗ ấy hay bị hiểu sai.

Vì sao “Tử Vi ở cung Mệnh” chưa phải một câu hỏi

Có một câu hay gặp nhất khi ai đó vừa lập xong lá số: tôi có sao này ở cung Mệnh, vậy tốt hay xấu.

Câu ấy chưa có đáp án, và không phải vì người trả lời giấu nghề. Nó thiếu vế điều kiện, mà toàn bộ nội dung nằm ở vế điều kiện.

Tôi lấy chính sao Tử Vi làm ví dụ, vì đây là sao ai cũng muốn có ở Mệnh. Tử Vi toạ Mệnh mà có Tướng Tá hội về thì phú quý song toàn, tăm tiếng lẫy lừng. Cũng Tử Vi ấy gặp Kiếp Không thì việc đầu tiên phải bàn lại là chuyện thọ yểu. Gặp Kình Dương Đà La cùng Hoả Linh thì lời đoán cổ khuyên nương cửa chùa. Đóng ở Thìn hoặc Tuất mà hội Phá Quân thì giàu có đấy, nhưng không sang, thuộc loại hư danh. Còn gặp Tham Lang tại Mão hoặc Dậu thì thành người ưa làm tôi mà bất trung.

Năm cảnh, một sao. Hai cảnh phụ thuộc vào ô địa chi nơi sao đóng, ba cảnh phụ thuộc vào việc nó đi cùng ai.

Đó chính là lớp một và lớp hai ở mục trên, chỉ khác là các lời đoán cổ gói chúng vào thể vần cho dễ thuộc. Toàn Thư dành riêng một bài ca cho từng chính tinh toạ Mệnh, và bài nào cũng dựng theo đúng khuôn ấy: một câu định tính, rồi một chuỗi điều kiện lật qua lật lại kết luận.

Một chi tiết dễ vấp. Bộ bài ca ấy chia làm ba loại tách rời, dành cho nam mệnh, cho nữ mệnh, và cho vận hạn. Nên khi bạn nhặt được một câu phú trên mạng nói về sao đóng ở Mệnh, vẫn còn một câu phải hỏi trước khi áp vào lá số của mình: câu đó thuộc loại nào trong ba loại.

Mệnh là thể, Thân là dụng

Cách nói quen thuộc là Mệnh chủ nửa đời trước, Thân chủ nửa đời sau. Dễ nhớ, và làm rơi mất phần quan trọng hơn.

Khung đúng là thể và dụng. Mệnh là thể, cái vốn có. Thân là dụng, cách cái vốn có ấy được đem ra dùng. Từ cặp đó ra bốn trường hợp:

Mệnh Thân Đọc là
tốt tốt cả thể lẫn dụng đều hay
xấu xấu cả thể lẫn dụng đều dở
tốt xấu có thể mà vô dụng: phát sớm, tàn sớm
xấu tốt có dụng mà vô thể: thành công muộn, hưởng chẳng được bao nhiêu

Hai dòng cuối mới là chỗ đáng dừng. Chúng nói rằng một cung Mệnh đẹp không tự nó bảo đảm điều gì, và một cung Mệnh xấu cũng chưa đóng lại cánh cửa nào. Cái quyết định là hai vế có khớp nhau hay không.

Có một câu phú gói cả ba lớp lại:

Mệnh hảo, thân hảo, hạn hảo đáo lão vinh xương

Mệnh tốt, Thân tốt, hạn tốt thì tới già vẫn yên ổn.

Câu này hay bị chép lại như một lời hứa, và đó là chỗ hỏng. Bản đầy đủ có kèm điều kiện: nó ứng vào trường hợp Thân Mệnh đóng ở Tràng Sinh hoặc Đế Vượng, lại có cát tinh, đồng thời đại hạn tiểu hạn cũng toàn sao tốt. Ba tầng điều kiện. Tách câu phú khỏi phần điều kiện thì nó không còn nói gì nữa.

Cung Thân rơi vào cung nào thì đọc ra sao

Cung Thân không có ô riêng. Nó chồng lên một cung khác, và chính chỗ nó rơi vào đã là một dữ kiện đọc được ngay:

Thân cư tại Đọc là
đồng cung với Mệnh tốt tăng tốt, xấu càng xấu
Tài Bạch chủ phú
Quan Lộc chủ quý
Thiên Di đời sống dựa vào quan hệ bên ngoài nhiều hơn trong nhà
Phúc Đức giàu nghèo gì cũng ưa hưởng thụ và chờ may mắn
Phu Thê trọng tâm nửa đời sau xoay quanh bạn đời

Danh sách chỉ có sáu dòng, và đó là toàn bộ khả năng. Cung Thân không bao giờ rơi vào Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc hay Điền Trạch.

Riêng dòng cuối cần một lời lưu ý. Lời đoán cổ cho Thân cư Phu Thê phân theo giới tính khá nặng: con trai thì có vợ hiền năng nhưng thường sợ vợ, con gái thì có chồng cương cường và phục chồng tuyệt đối. Đó là hình dung về gia đình của thời lời đoán ấy ra đời, và bạn đọc nó như đọc một văn bản có niên đại. Phần dùng được là phần cấu trúc: Thân cư Phu Thê thì nửa đời sau của người ấy gắn chặt vào chuyện đôi lứa, còn nội dung cụ thể thì tuỳ thời mà đổi.

Mệnh vô chính diệu là gì

Có những lá số mà cung Mệnh không có chính tinh nào đóng. Trường hợp ấy gọi là mệnh vô chính diệu, và cách xử lý là mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ mà luận.

Hai truyền thống đọc cách này khác nhau, và khoảng cách khá xa.

Chính bản gốc xếp mệnh vô chính diệu vào loại xấu, gần như không có ngoại lệ. Chừa đúng một cửa: nếu có một trong tứ sát là Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp hay Thiên Không đắc địa toạ thủ thì số thành oanh liệt, phát nhanh, nhưng không bền.

Tử vi Việt luận kỹ hơn và mở thêm một cửa nữa, đó là Tam Không. Mệnh vô chính diệu mà được Tam Không thì thành số cực phú quý, với thượng cách là một Không toạ thủ ngay cung Mệnh và hai Không còn lại chiếu về. Nếu cả ba cùng nhập vào cung Mệnh mà xung phá thì đảo chiều hoàn toàn: phi yểu tắc bần.

Tôi để ý cái thế đối xứng ở đây. Cùng một nhóm sao mang chữ Không, cùng một cung, chỉ khác cách phân bố, mà cho hai kết luận nằm ở hai cực. Đây là kiểu lập luận rất đặc trưng của tử vi Việt, và nếu bạn đã đọc bài về Tuần và Triệt thì sẽ nhận ra đúng khuôn ấy lặp lại: thứ mà bản gốc coi là trống rỗng và hoàn toàn xấu thì tới tay tiền nhân ta thành một biến số hai chiều.

Ba điều ít người biết về cung Mệnh

Điều 1: không ai giải thích được vì sao an mệnh lại khởi từ cung Dần.

Công thức thì rõ và chạy tốt. Phần giảng nguyên lý thì mất từ lâu, và chính người dịch bản Toàn Thư khi gặp đúng câu hỏi này cũng chỉ ghi lại rằng đành tiếp tục chờ. Tôi nói ra chỗ này để bạn có quyền hỏi lại khi ai đó giải thích bằng một lý lẽ nghe rất xuôi tai.

Điều 2: cung Mệnh là thể, cung Thân mới là dụng.

Người mới thường dồn hết chú ý vào cung Mệnh rồi dừng. Nhưng cung Thân là chỗ cái bản chất ấy thi triển ra đời sống, và nó lưu động chứ không có ô cố định. Tôi coi việc bỏ qua cung Thân là chỗ đọc hụt lớn nhất của người tự học.

Điều 3: mệnh vô chính diệu không mặc nhiên là số xấu.

Phần lớn lời đoán cổ xếp cách này vào loại xấu, đúng. Nhưng tử vi Việt chừa một cửa: gặp đủ Tam Không thì lời đoán đảo chiều. Đây là kiểu lập luận hai chiều mà tôi thấy rất đặc trưng của cách người Việt luận số, và nó không có trong bản chữ.

Vì sao cùng chính tinh mà số phận khác nhau

Vì chính tinh chỉ là một biến trong nhiều biến.

Hai người cùng Tử Vi toạ Mệnh, nhưng khác cung Thân, khác đại vận đang đi, khác cách cục, thì đường đời không có lý do gì phải giống nhau. Thêm nữa, cung Mệnh không phải cung duy nhất được coi trọng: ngay trong cách luận cổ đã có một nhóm cường cung đứng ngay sau Thân Mệnh về sức nặng.

Bản thân hệ thống cũng không hứa điều ngược lại. Tử vi mô tả xu hướng, không mô tả kết quả cố định.

Câu hỏi thường gặp#

Cung Mệnh và cung Thân khác nhau ra sao?
Mệnh là thể, tức cái vốn có. Thân là dụng, tức cách cái vốn có ấy được đem ra dùng. Cách nói Mệnh chủ nửa đời trước còn Thân chủ nửa đời sau chỉ đúng một phần và làm mất vế quan trọng hơn: hai cung phải khớp nhau thì đời mới thuận.
Không nhớ giờ sinh thì lập được lá số không?
Không chính xác được. Giờ sinh quyết định vị trí cung Mệnh; sai giờ là sai toàn bộ lá số. Trường hợp không rõ giờ cần dò ngược qua các sự kiện lớn đã xảy ra.
Cung Mệnh được an theo cách nào?
Lấy cung Dần làm tháng Giêng, đếm thuận trên địa bàn tới tháng sinh âm lịch, rồi từ ô vừa dừng đếm nghịch tới giờ sinh. Ô cuối cùng là cung Mệnh. Ghép hàng can năm sinh với địa chi của ô ấy thì ra cục.
Có Tử Vi ở cung Mệnh thì tốt hay xấu?
Chưa trả lời được. Cùng sao Tử Vi toạ Mệnh, có Tướng Tá hội về là phú quý song toàn, gặp Kiếp Không lại phải bàn chuyện thọ yểu, đóng Thìn hay Tuất mà hội Phá Quân thì giàu nhưng không sang. Tên sao chỉ là một biến; điều kiện đi kèm mới quyết định kết luận.

Nguồn tham khảo#