14 chính tinh trong tử vi là gì? Bảng tra chi tiết và 3 điều ít người biết

14 chính tinh gồm Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân. Mỗi sao mang một hành và một hoá khí, nhưng lời đoán chỉ thành hình khi biết thêm sao đó đóng ở cung địa chi nào và đi cùng ai.
Trên một lá số có hơn tám chục cái tên sao. Mười bốn cái trong số đó làm phần lớn công việc, và mười bốn cái tên ấy đáng thuộc.
Đó là chính tinh. Số còn lại là phụ tinh và sát tinh: chúng không tự dựng nên tính chất một cung mà làm mạnh lên hoặc phá vỡ cái mà chính tinh đã dựng.
Chính tinh là gì và vì sao chỉ có 14 sao sao
Con số mười bốn không phải ai cũng đồng ý, và tôi nói rõ chỗ này ngay từ đầu.
Bản Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư giữ đúng mười bốn, và cổ truyền tử vi Việt Nam bám theo bản này. Phái đẩu số mệnh lý thì xếp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc và Lộc Tồn vào hàng chính tinh, thành mười chín. Không có trọng tài nào phân xử, nên chuyện đáng làm là biết mình đang dùng bảng nào.
Ranh giới với nhóm còn lại cũng nên nắm sớm, vì bạn sẽ gặp mấy cái tên ấy ở mọi lời đoán. Bốn sát tinh hay được gọi gộp là Tứ Sát gồm Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh. Thêm cặp Thiên Không với Địa Kiếp, thường viết tắt là Không Kiếp. Bên phía trợ lực thì có Tả Phụ Hữu Bật, Văn Xương Văn Khúc, Thiên Khôi Thiên Việt, Lộc Tồn. Không sao nào trong số đó tự dựng nên tính chất một cung, nhưng chúng đủ sức lật ngược kết luận mà chính tinh đã dựng, và phần lớn câu phú thú vị đều sinh ra ở chỗ giao nhau ấy.
Tôi vẫn nhớ mười bốn sao ấy theo hai chòm. Bắc Đẩu gồm Tử Vi cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc, Tham Lang, Cự Môn, Phá Quân. Nam Đẩu gồm Thiên Phủ, Thiên Cơ, Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Tướng, Thất Sát. Còn Thái Dương với Thái Âm đứng riêng, được gọi là nghi biểu của trời, một bên là tinh hoa ban ngày, một bên là tinh hoa của nước.
Đọc một chính tinh thì cần xét những gì
Ba dữ kiện, và thiếu một là chưa đọc được.
Hành của sao. Mỗi chính tinh mang một hành trong ngũ hành. Hành ấy gặp hành của cung địa chi nơi sao đóng thì sinh nhau hoặc khắc nhau, và đó là nguyên tắc dùng để giải thích miếu hãm.
Hoá khí. Là cái mà sao ấy biến thành khi vào lá số. Thiên Đồng hoá khí thành phúc, Cự Môn hoá khí thành ám, Tham Lang hoá khí thành Đào Hoa. Hoá khí cho bạn biết sao ấy nói về chuyện gì, trước khi biết nó tốt hay xấu.
Chỗ đứng. Cùng một sao, đóng ở miếu địa hay hãm địa cho hai kết luận ngược nhau. Đây là vế người mới hay bỏ, và bỏ nó thì mọi bảng tra tên sao đều dẫn đi sai.
Tôi thêm một vế thứ tư khi luận thật: sao đi cùng ai. Một chính tinh đứng rời chưa lập thành cách, và các câu phú đều dựng trên tổ hợp chứ không dựng trên một sao đơn lẻ.
Mười bốn chính tinh gồm những sao nào
1. Tử Vi
Hành Thổ, được gọi là đế toà, ngôi tôn trong các vị sao. Vị trí của nó được an trước tiên, rồi cả lá số dựng theo. Miếu tại Dần và Ngọ, vượng ở bảy cung, bình thường tại Mão Dậu. Nó cần Tả Phụ Hữu Bật đi kèm, thiếu thì bị ví như ông vua mất triều thần. Đọc tiếp: sao Tử Vi.
2. Thiên Cơ
Hành Mộc, Nam Đẩu tinh, hoá khí là thiện tinh, chủ cung Huynh Đệ. Đắc địa thì nó điều chỉnh được lẽ thuận nghịch của số mệnh, tức là một sao mang tính xoay chuyển hơn là tính áp đặt. Theo lời dịch bài ca Ngọc Thiềm thì miếu tại Tí Ngọ, hãm tại Sửu Mùi, nhưng ba chỗ khác trong sách lại chép khác. Đọc tiếp: sao Thiên Cơ.
3. Thái Dương
Hành Hoả, quan lộc tinh, tinh hoa của ban ngày. Miếu tại Ngọ và Mão, vượng ở Dần Thìn Tị, hãm tại Tuất Hợi Tí. Thái Dương hãm địa vẫn là mặt trời, nhưng là mặt trời lúc nửa đêm. Đọc tiếp: sao Thái Dương.
4. Vũ Khúc
Hành Kim, sao thứ sáu vòm Bắc Đẩu, chủ về tiền bạc ở cung Tài Bạch nên các câu phú gọi thẳng là tài tinh. Tính khí quả quyết, cương nghị. Miếu tại Sửu Mùi Tuất, vượng ở Tí Ngọ, và dòng tổng hợp không gọi tên cung hãm nào. Đọc tiếp: sao Vũ Khúc.
5. Thiên Đồng
Hành Thuỷ, Nam Đẩu đệ tứ tinh, chủ tể cung Phúc Đức nên hoá khí thành phúc. Miếu tại Tị Hợi, vượng ở Tí Thân, hãm tại Ngọ Sửu Mùi Dậu. Là sao ôn hoà, cần cát tinh trợ lực thì phúc mới thành. Đọc tiếp: sao Thiên Đồng.
6. Liêm Trinh
Bắc Đẩu đệ ngũ tinh, coi về quyền lệnh. Không được miếu vượng mà lại phạm Quan Phù thì hoá khí thành tù. Miếu tại Dần Thân, hãm tại Tị Hợi Dậu Mão. Riêng hành của sao này thì chính bản gốc chép hai kiểu, chỗ ghi Mộc chỗ ghi Hoả. Đọc tiếp: sao Liêm Trinh.
7. Thiên Phủ
Hành Thổ, Nam Đẩu đệ nhất tinh, chủ đế cung Tài Bạch, coi về quyền và phúc. Miếu tại Tí Sửu Dần Mùi, vượng ở Ngọ Mão Thìn Tuất. Bảng miếu hãm không nêu hãm địa nào cho nó. Đọc tiếp: sao Thiên Phủ.
8. Thái Âm
Tinh hoa của Thuỷ, cùng Thái Dương làm nghi biểu của trời. Làm chủ cung Điền Trạch thì hoá khí thành phú. Miếu tại Dậu Hợi Tuất, vượng ở Tí Sửu, hãm tại Ngọ Dần Thìn Tị Mão. Đây là sao có hai bản miếu hãm khác nhau ngay trong một trang sách. Đọc tiếp: sao Thái Âm.
9. Tham Lang
Bắc Đẩu tinh, giải ách chi thần, hoá khí là Đào Hoa. Khí thuộc Mộc mà thể thuộc Thuỷ, nên nhiều bảng ghi nó là Thuỷ Mộc. Miếu tại cả bốn cung tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, hãm tại Hợi Mão Dậu. Đọc tiếp: sao Tham Lang.
10. Cự Môn
Hành Thuỷ, Bắc Đẩu đệ nhị tinh, hoá khí thành ám, nghĩa là che tối. Ở Thân Mệnh thì thường chiêu miệng tiếng và dèm chê. Miếu tại Mão Dậu Dần Thân, hãm tại Tị Thìn Tuất Sửu Mùi. Đọc tiếp: sao Cự Môn.
11. Thiên Tướng
Hành Thuỷ, Nam Đẩu tinh, hoá khí là ấn, chuyên trợ giúp cho Tử Vi. Miếu tại Tí Ngọ Dần Thân, đắc tại Tị Hợi Sửu Mùi, hãm tại Mão Dậu. Là sao của quyền tước và phúc thiện. Đọc tiếp: sao Thiên Tướng.
12. Thiên Lương
Hành Thổ, Nam Đẩu tinh cai quản việc thọ yểu, hoá khí là Ấm, tức bóng che chở. Miếu tại Tuất Thìn Ngọ, vượng ở sáu cung, hãm tại Tị Hợi Dậu. Chủ về phụ mẫu, tính tình lỗi lạc và chính trực. Đọc tiếp: sao Thiên Lương.
13. Thất Sát
Nam Đẩu tinh, thuộc Hoả Kim, được gọi là thượng tướng của tinh đẩu và là cô thần cho sự thành bại. Uy như thép của lưỡi kiếm. Miếu tại Dần Thân Tí Ngọ. Bảng miếu hãm ghi nó vô hãm địa, nhưng chỗ khác trong cùng cuốn sách lại nhắc tới hãm địa của nó. Đọc tiếp: sao Thất Sát.
14. Phá Quân
Hành Thuỷ, Bắc Đẩu tinh, coi các việc nô bộc, phu thê và tử tức. Trên trời là sát khí, vào số là hao. Miếu tại Tí Ngọ, vượng ở tứ mộ, hãm tại Tị Hợi Dần Thân Mão Dậu. Đọc tiếp: sao Phá Quân.
Vì sao chính tinh hiếm khi đứng một mình
Bảng ở trên liệt kê mười bốn sao như mười bốn thực thể rời. Trên lá số thật thì chúng không rời.
Việc đầu tiên khi lập số là an sao Tử Vi, và chỗ đóng của nó do cục quyết định. Nguyên văn nói thẳng vai trò ấy: mệnh con người ta trước phải căn cứ vào Tử Vi rồi từ đấy mới lập thành số. Mười ba sao còn lại theo sau. Nghĩa là mười bốn chính tinh không rải ngẫu nhiên vào mười hai cung; chúng đi theo những thế tương đối cố định, và chính vì thế mà tử vi mới có cách cục để tra.
Hệ quả là các câu phú gần như luôn nói về bộ, không nói về một sao. Vài bộ được gọi tên riêng:
Tử Phủ. Tử Vi đi với Thiên Phủ. Đồng cung tại Dần hoặc Thân mà không bị sát tinh làm hỗn thì người tuổi Giáp hưởng phúc suốt đời; đồng cung tại Tị hoặc Hợi thì được cả giàu lẫn sang. Hai sao này cùng cần Tả Phụ Hữu Bật mới dễ bề phú quý.
Sát Phá Tham. Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang. Đây là bộ mạnh và động nhất trong mười bốn sao, cũng là bộ tối kị Tuần Triệt. Phú nôm của ta nhắc bộ này rất nhiều, phần lớn là lời cảnh báo.
Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương. Bốn sao này hội vào hai cung Dần hoặc Thân thì lời đoán cổ ghi là số làm đề lại, tức công chức, người ăn lương trong bộ máy. Đây là một trong ít câu phú nói thẳng về nghề nghiệp.
Còn hai cách đáng nhớ vì chúng cho thấy cùng một sao đổi vai theo bạn đồng hành. Tử Vi khuất phục được Thất Sát rồi dùng Thất Sát làm quyền uy thì thành cách về Võ. Cũng Tử Vi ấy mà nhờ lực Văn Khúc thì thành cách về Văn. Sao chủ không đổi, người đi cùng đổi, và hướng cả đời đổi theo.
Nên tôi khuyên bạn đừng dừng ở dòng của riêng sao mình có khi tra bảng. Câu hỏi tiếp theo luôn là: nó đang đi với ai.
Bảng tra nhanh 14 chính tinh gồm những gì
| Sao | Chòm | Hành | Hoá khí, chủ về | Miếu tại |
|---|---|---|---|---|
| Tử Vi | Bắc Đẩu | Thổ | đế toà, chủ quan lộc | Dần, Ngọ |
| Thiên Cơ | Nam Đẩu | Mộc | thiện tinh, chủ huynh đệ | Tí, Ngọ (bốn nguồn vênh) |
| Thái Dương | riêng | Hoả | quan lộc tinh | Ngọ, Mão |
| Vũ Khúc | Bắc Đẩu | Kim | tài tinh, chủ tài bạch | Sửu, Mùi, Tuất |
| Thiên Đồng | Nam Đẩu | Thuỷ | phúc | Tị, Hợi |
| Liêm Trinh | Bắc Đẩu | Mộc hoặc Hoả | tù, quyền lệnh | Dần, Thân |
| Thiên Phủ | Nam Đẩu | Thổ | quyền và phúc | Tí, Sửu, Dần, Mùi |
| Thái Âm | riêng | Thuỷ | phú, chủ điền trạch | Dậu, Hợi, Tuất |
| Tham Lang | Bắc Đẩu | Thuỷ Mộc | Đào Hoa, giải ách | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi |
| Cự Môn | Bắc Đẩu | Thuỷ | ám | Mão, Dậu, Dần, Thân |
| Thiên Tướng | Nam Đẩu | Thuỷ | ấn, quyền tước | Tí, Ngọ, Dần, Thân |
| Thiên Lương | Nam Đẩu | Thổ | Ấm, coi thọ yểu | Tuất, Thìn, Ngọ |
| Thất Sát | Nam Đẩu | Hoả Kim | thượng tướng | Dần, Thân, Tí, Ngọ |
| Phá Quân | Bắc Đẩu | Thuỷ | hao, sát khí | Tí, Ngọ |
Tôi để bảng này ở đây để tra nhanh, không phải để luận. Muốn luận thì còn phải xem sao đóng đúng cung địa chi nào của bạn, đi cùng ai, và cung nào đang xét.
Ba điều ít người biết về 14 chính tinh
Điều 1: con số mười bốn không phải ai cũng đồng ý.
Bản Toàn Thư chốt mười bốn, và tử vi Việt cổ truyền bám theo. Nhưng phái đẩu số mệnh lý xếp cả Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc và Lộc Tồn vào hàng chính tinh, tức mười chín sao. Tôi nêu chuyện này ra không phải để phân xử, mà để bạn biết khi hai người luận khác nhau thì đôi khi họ đang đếm khác nhau ngay từ đầu.
Điều 2: hai trong mười bốn sao có bảng tra không dùng thẳng được.
Thiên Cơ thì thừa: bốn nguồn trong cùng cuốn sách cho bốn bảng, và hai nguồn ngược hẳn nhau về cung Tí với cung Ngọ. Vũ Khúc thì thiếu: dòng tổng hợp bỏ trắng năm cung và không gọi tên cung hãm nào. Tôi xếp hai sao ấy vào diện phải ghi rõ nguồn trước khi luận.
Điều 3: một chính tinh đứng rời chưa lập thành cách.
Đây là điều tôi muốn bạn mang theo hơn cả bảng tra ở trên. Các câu phú đều dựng trên tổ hợp, không dựng trên một sao đơn lẻ, nên câu hỏi tiếp theo sau khi tra bảng luôn là: nó đang đi với ai.
Hai sao có bảng tra rắc rối nhất
Tôi mất nhiều thời gian nhất với hai sao này. Mười hai sao còn lại có một dòng tổng hợp vị trí đứng ngay đầu mục, tra là thấy. Thiên Cơ và Vũ Khúc thì không dễ như vậy, và mỗi sao khó theo một kiểu ngược nhau.
Thiên Cơ thừa. Bốn chỗ trong cùng cuốn sách đưa ra bốn bảng. Lời dịch bài ca cho miếu tại Tí Ngọ; nguyên văn bài ca ngay trên đó cho miếu cả bốn cung Thìn, Tuất, Tí, Ngọ; bài quyết về phá cách lại xếp Tí Ngọ vào lạc hãm; chương ngũ hành thì gọi Mão là miếu địa. Chỗ duy nhất cả bốn cùng nói là Sửu và Mùi đều xấu.
Vũ Khúc thiếu. Dòng tổng hợp có thật, nằm ở bullet cuối cùng của danh sách phú nên rất dễ trượt khi tra. Nó ghi miếu tại Sửu Mùi Tuất, vượng Tí Ngọ, bình thường Tị Hợi. Năm cung còn lại không được xếp mức nào, và không cung nào bị gọi là hãm, dù chính sách hai lần nhắc tới hãm địa của sao này ở chỗ khác.
Với cả hai sao, tôi làm giống nhau: ghi rõ mình tra theo nguồn nào trước khi luận tiếp, và đừng lấp chỗ trống bằng phỏng đoán rồi trình bày như dữ kiện. Từng chỗ vênh được mổ kỹ trong sao Thiên Cơ và sao Vũ Khúc.
Câu hỏi thường gặp#
- Chính tinh trong tử vi là gì?
- Là 14 sao chủ lực dựng nên phần lớn nội dung một lá số, phân biệt với phụ tinh và sát tinh vốn chỉ làm mạnh lên hoặc phá vỡ cái mà chính tinh đã dựng. Con số 14 theo bản Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư; phái đẩu số mệnh lý xếp thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc và Lộc Tồn vào hàng này.
- Chính tinh nào mạnh nhất?
- Tử Vi được gọi là đế toà, ngôi tôn trong các sao, và vị trí sao Tử Vi là thứ được an trước tiên để dựng cả lá số. Nhưng mạnh hay không còn tuỳ chỗ đứng: một chính tinh ở hãm địa yếu hơn hẳn chính sao ấy ở miếu địa, và Tử Vi thiếu Tả Phụ Hữu Bật thì bị ví như ông vua mất triều thần.
- Cung Mệnh không có chính tinh nào thì sao?
- Gọi là mệnh vô chính diệu, và cách xử lý là mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ mà luận. Phần lớn lời đoán cổ xếp cách này vào loại xấu, riêng tử vi Việt chừa cửa cho trường hợp gặp đủ Tam Không.
- Vì sao bảng miếu hãm của Thiên Cơ và Vũ Khúc lại khó tra hơn mười hai sao kia?
- Vì dữ liệu của hai sao này không nằm đúng chỗ người ta hay tìm. Thiên Cơ có tới bốn nguồn trong cùng cuốn sách nói bốn kiểu khác nhau, trong đó hai nguồn ngược hẳn nhau về cung Tí và cung Ngọ. Vũ Khúc thì có một dòng tổng hợp nhưng nó nằm ở bullet cuối một danh sách phú, và dòng ấy bỏ trắng năm cung, không gọi tên cung hãm nào.
Nguồn tham khảo#
- Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 20-40)
- Tử vi đẩu số - Wikipedia tiếng Việt