Tử Vi Việt

Kiến thức tử vi, tướng số và phong thuỷ Việt Nam

Miếu vượng đắc hãm là gì? Luận giải chi tiết thứ bậc và 3 điều ít người biết

· Đăng · Cập nhật · Nền tảng

Trả lời ngắn

Mỗi sao có những cung hợp với nó và những cung khắc nó. Đứng đúng chỗ nhất là miếu, kém hơn là vượng, rồi đắc, sai chỗ là hãm. Một sao tốt ở hãm địa không còn tốt, một sao xấu ở miếu địa không còn xấu, nên biết tên sao mà chưa biết vị trí thì chưa luận được gì.

Bạn tra được tên sao đóng ở cung Mệnh, đọc đoạn mô tả đi kèm, và thấy nó đúng. Đây là điểm dừng của gần như mọi người tự xem lá số, và cũng là điểm mà kết luận rút ra chưa đáng tin.

Thiếu vế thứ ba: sao đó đang đứng ở đâu.

Miếu, vượng, đắc, hãm nghĩa là gì

Mỗi sao có những cung địa chi hợp với nó và những cung khắc nó. Nguyên tắc gốc là ngũ hành: sao mang một hành, cung mang một hành, hai hành ấy sinh nhau hay khắc nhau.

Nhưng nguyên tắc ấy không giải được cả bảng, và chính Vũ Tài Lục là người chỉ ra. Liêm Trinh thuộc Hoả đóng ở Tị vốn là hoả địa, đáng lẽ phải hợp, vậy mà vẫn hãm. Tham Lang thuộc Thuỷ Mộc đóng ở Hợi là thuỷ địa cũng vẫn hãm. Ông đặt thẳng câu hỏi liệu miếu hãm còn căn cứ trên nguyên tắc thụ chế hay không, hay còn một nguyên tắc nào khác nữa, rồi để ngỏ.

Định nghĩa thì gọn. Mỗi sao có một vị trí đúng chỗ của nó: đứng đúng chỗ gọi là miếu, đứng sai chỗ gọi là hãm. Giữa hai đầu ấy còn vượng địa và đắc địa, nhưng miếu địa vẫn là nhất.

Thứ tự giảm dần, thuộc lòng được ngay: miếu, vượng, đắc, bình thường, hãm.

Có sách chép “đắc” trước “vượng”. Sự khác biệt giữa hai bậc giữa này nhỏ và không đổi kết luận, nhưng miếu ở đầu và hãm ở cuối thì mọi phái đều thống nhất.

Vì sao sao tốt vẫn có thể không tốt

Đây là phần đáng giá nhất, và cũng là phần gần như không bảng tra sao nào trên mạng nói tới. Bốn trường hợp, gọi tên bằng hai chữ hư và thực:

Ở miếu địa Ở hãm địa
Sao tốt thực cát: tốt thật, gặp sao xấu cũng không sợ hư cát: không tốt nữa, còn có thể quay thành xấu
Sao xấu hư hung: không hung nữa, thậm chí hoá thành tốt thực hung: xấu thật, có cát tinh cứu cũng khó

Hai ô in đậm là hai ô làm hỏng mọi kết luận rút ra từ việc chỉ tra tên sao.

Lấy Thái Dương. Miếu ở Ngọ và Mão, hãm ở Tuất, Hợi, Tí. Thái Dương hãm địa vẫn là Thái Dương, vẫn được mô tả bằng những chữ về ánh sáng và quyền uy trong mọi bảng tra, nhưng nó là mặt trời lúc nửa đêm. Có mặt mà không soi được gì.

Bản đồ vị trí sao Thái Dương qua 12 cung địa bàn: miếu tại Ngọ và Mão, vượng đắc tại Dần Thìn Tị, hãm tại Tuất Hợi Tí, các cung còn lại sách không ghi
Cùng một sao Thái Dương, đổi ô là đổi mức. Bốn ô Mùi, Thân, Dậu và một phần bảng sách không ghi mức - đúng kiểu khoảng trống nói tới ở mục dưới. Theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, tr. 25-26.

Chiều ngược lại thì Thất Sát miếu ở Dần, Thân, Tí, Ngọ. Ở bốn cung đó nó là một cách cục mạnh chứ không phải cái hoạ mà tên gọi gợi ra.

Vế này mạnh hơn vẻ ngoài của nó. Thực cát thì gặp hung tinh cũng chẳng sợ; thực hung thì có cát tinh cứu cũng khó. Nghĩa là vị trí không chỉ điều chỉnh đôi chút, nó quyết định luôn chuyện các sao khác còn cứu được hay không.

Từng chính tinh miếu ở cung nào, hãm ở cung nào

Bảng dưới đây kèm số trang để bạn tự đối chiếu với bản Toàn Thư. Đọc phần ghi chú ngay bên dưới trước khi dùng, vì bốn dòng trong bảng có vấn đề.

Chính tinh Miếu Vượng, đắc Bình thường Hãm Trang
Tử Vi Dần, Ngọ Thân, Hợi, Thìn, Tị, Tí, Sửu, Mùi Mão, Dậu sách ghi là không có 21
Thiên Cơ Tí, Ngọ Tị, Hợi, Thìn, Tuất Sửu, Mùi 24
Thái Dương Ngọ, Mão Dần, Thìn, Tị Tuất, Hợi, Tí 25-26
Vũ Khúc Sửu, Mùi, Tuất Tí, Ngọ Tị, Hợi sách không nêu 27
Thiên Đồng Tị, Hợi Tí, Thân Ngọ, Sửu, Mùi, Dậu 27
Liêm Trinh Dần, Thân Tí, Ngọ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Tị, Hợi, Dậu, Mão 29
Thiên Phủ Tí, Sửu, Dần, Mùi Ngọ, Mão, Thìn, Tuất Dậu, Tị, Thân, Hợi sách không nêu 30
Thái Âm Dậu, Hợi, Tuất Tí, Sửu Ngọ, Dần, Thìn, Tị, Mão 31
Tham Lang Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Tí, Ngọ Tí, Hợi, Mão, Dậu 32-33
Cự Môn Mão, Dậu, Dần, Thân Tí, Ngọ, Hợi Tị, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi 34
Thiên Tướng Tí, Ngọ, Dần, Thân Tị, Hợi, Sửu, Mùi Mão, Dậu 35
Thiên Lương Tuất, Thìn, Ngọ Sửu, Mùi, Tí, Mão, Dần, Thân Tị, Hợi, Dậu 36-37
Thất Sát Dần, Thân, Tí, Ngọ Mão, Dậu, Sửu, Mùi, Tị, Hợi sách ghi là không có 38-39
Phá Quân Tí, Ngọ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Tị, Hợi, Dần, Thân, Mão, Dậu 40

Năm chỗ phải cẩn thận, và cả năm đều nằm ngay trong bảng trên.

Thiên Cơ có bốn bảng chỏi nhau. Dòng trong bảng trên lấy theo lời dịch bài ca Ngọc Thiềm. Nguyên văn bài ca ngay phía trên đó lại cho miếu cả bốn cung Thìn, Tuất, Tí, Ngọ. Bài quyết về phá cách thì xếp thẳng Tí và Ngọ vào lạc hãm, tức ngược hẳn. Còn chương ngũ hành gọi Mão là miếu địa, một cung không có mặt ở bảng nào. Chi tiết từng chỗ nằm trong bài sao Thiên Cơ.

Vũ Khúc bỏ trắng năm cung và không nêu hãm địa nào. Dòng tổng hợp của sao này có thật, nhưng nằm ở bullet cuối một danh sách phú nên rất dễ trượt khi tra. Nó gọi tên bảy cung rồi dừng. Dần, Mão, Thìn, Thân, Dậu không được xếp mức, và cột hãm trống hoàn toàn dù chỗ khác trong sách hai lần nhắc tới hãm địa của nó. Xem sao Vũ Khúc.

Tham Lang có cung Tí ở cả cột vượng lẫn cột hãm. Nguyên văn ghi vượng địa Tí, Ngọ rồi ngay sau đó ghi hãm địa Tí, Hợi, Mão, Dậu. Một trong hai chữ Tí là lỗi, và cho tới khi đối chiếu được nguồn khác thì đừng lấy Tham Lang tại Tí ra làm ví dụ.

Thái Âm có hai bản khác nhau trong cùng một trang. Lời Trần Đoàn ghi Mão Thìn Tị Ngọ là hãm địa, Dậu Tuất Hợi Tí Sửu là đắc địa, miếu tại Dậu. Bảng phú ngay bên dưới thì ghi miếu tại Dậu, Hợi, Tuất, vượng tại Tí, Sửu. Hai bản khớp phần lớn nhưng không khớp hoàn toàn, và bảng trên lấy theo bản thứ hai.

Tử Vi và Thất Sát ghi là vô hãm địa. Đây là hai dòng đã nói ở mục dưới, và là chỗ sách mâu thuẫn với chính nó.

Bản đồ vị trí sao Tham Lang qua 12 cung địa bàn: miếu tại tứ mộ Thìn Tuất Sửu Mùi, vượng tại Ngọ, hãm tại Hợi Mão Dậu, riêng cung Tí sách xếp vào cả vượng lẫn hãm
Tham Lang miếu ở cả bốn cung tứ mộ. Cung Tí là chỗ sách tự vênh: nó xuất hiện ở cả dòng vượng địa lẫn dòng hãm địa. Theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, tr. 32-33.

Bảng miếu hãm có thống nhất không

Chỗ này ít ai nói ra, nhưng tôi nghĩ bạn nên biết sớm để đỡ hoang mang khi tra hai nguồn ra hai kết quả.

Ngay trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư đã có mâu thuẫn. Bảng miếu hãm của sao Tử Vi viết rằng sao này không có hãm địa vì nó tự giải cứu được. Nhưng ở trang trước đó, cùng cuốn sách, lại có câu Tử Vi rơi vào hãm địa là cực hung. Thất Sát y hệt: bảng ghi vô hãm địa, còn phần dẫn sách Bí Kinh lại có câu Thất Sát cư hãm địa.

Chỗ vênh này còn một lần thứ ba, nằm mãi phần phú tổng hợp cuối sách. Câu phú viết Tử Phủ bất khả cư hãm địa, và lời chú giải nghĩa rằng Tử Vi cùng Thiên Phủ tuy là cát tinh nhưng nếu ở hãm địa thì còn nguy hại gấp bội.

Đếm lại thì tôi thấy cán cân khá rõ. Bảng miếu hãm nói Tử Vi không có hãm địa: một chỗ. Các phần khác của cùng cuốn sách nói tới hãm địa của Tử Vi như một tình huống có thật: ít nhất hai chỗ, ở hai chương cách xa nhau. Nghĩa là dòng trong bảng mới là dòng lẻ loi, chứ không phải các câu phú.

Điều đó không cho phép kết luận dứt khoát rằng bảng sai. Nhưng nó đủ để bạn đừng dùng câu “Tử Vi không bao giờ hãm” như một luật, và nếu có ai nói với bạn câu ấy thì bạn biết nó đến từ đâu và bị chính cuốn sách đó phản lại ở chỗ nào.

Sao Tham Lang thì bảng ghi cung Tí ở cả mục vượng lẫn mục hãm, một trong hai chắc chắn là lỗi. Sao Thái Âm có hai bản miếu hãm khác nhau nằm cách nhau vài dòng trong cùng một trang. Thiên Cơ thì bốn chỗ trong sách cho bốn bảng, còn dòng của Vũ Khúc bỏ trắng năm cung và không gọi tên cung hãm nào.

Tôi không coi đây là lý do để bỏ khái niệm miếu hãm. Nó là lý do để luôn ghi rõ mình tra theo nguồn nào, và để không tin một bảng tra chỉ vì nó được trình bày gọn gàng.

Nhàn cung là gì và khác hãm địa thế nào

Nhàn cung là chỗ một sao mất lực, không phải chỗ nó được cấp thêm. Chữ nhàn ở đây mang nghĩa ngồi chơi, thất nghiệp.

Mức độ thì rõ: vào nhàn cung, khả năng tốt của sao giảm tới 80%, hoặc nó sinh tính kỳ quặc mà hỏng việc. Nghĩa bóng của nhàn cung là thất vị thất nghiệp.

Bạn gặp chữ này trong các câu phú, và thường là câu chê:

Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất Gái bạc tình Tham Sát nhàn cung

Nhàn cung chỉ được ghi cho tám sao:

Sao Nhàn cung tại
Tử Vi Tí, Thìn, Hợi
Tham Lang Dần, Thân
Thiên Tướng Thìn, Tuất
Thất Sát Thìn, Hợi
Thiên Lương Tị
Thiên Cơ Tị
Phá Quân Tị, Thân
Vũ Khúc Thân

Sáu chính tinh còn lại là Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm, Thái Dương, Liêm Trinh và Cự Môn thì không thấy ghi. Vũ Tài Lục đoán rằng câu thơ chép nhàn cung của chúng đã thất lạc.

Miếu hãm ảnh hưởng tới cách cục thế nào

Tử vi cổ điển xếp người đời thành mười hạng, gọi là thập đẳng: phúc thọ, thông minh, uy dũng, văn quan, vũ chức, hình danh, phú quý, bần tiện, tật yểu, tăng đạo.

Điều đáng chú ý nằm ở cách định nghĩa từng hạng. Gần như hạng nào cũng có vế miếu vượng hoặc vế hãm địa nằm ngay trong điều kiện.

Hạng phúc thọ cần Thiên Đồng, Thiên Lương toạ mệnh ở miếu vượng. Hạng vũ chức cần Vũ Khúc, Thất Sát toạ mệnh miếu vượng, tam phương lại được Quyền Lộc và Khôi Việt chiếu về. Còn hạng bần tiện thì dựng từ một chùm gồm Kình Dương, Đà La, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Thiên Không, Địa Kiếp, Hoá Kị ở hãm địa chiếu xung.

Đọc kỹ ba dòng ấy thì thấy một chuyện: có những sao xuất hiện ở cả nhóm tốt lẫn nhóm xấu. Vũ Khúc và Phá Quân nằm trong định nghĩa của vũ chức, cũng nằm trong định nghĩa của bần tiện. Cái tách hai trường hợp không phải tên sao. Là vị trí.

Có câu phú nói thẳng điều đó, gọn hơn mọi lời giải thích:

Vượng địa phát phúc chung viễn đại Hãm địa chênh vênh đáo để khuynh

Ở vượng địa thì phúc phát và bền lâu; ở hãm địa thì chênh vênh, rốt cuộc vẫn đổ. Cùng mạch ấy còn câu Tử Phủ bất khả cư hãm địa: Tử Vi với Thiên Phủ tuy là cát tinh, rơi vào hãm địa lại nguy hại gấp bội.

Nên khi ai đó nói lá số bạn có cách này cách kia, câu hỏi tiếp theo luôn là các sao dựng nên cách ấy đang đứng ở đâu. Cùng một bộ sao, đủ để xếp vào loại thứ năm hoặc loại thứ tám trong mười loại, tuỳ chỗ đứng.

Ba điều ít người biết về miếu vượng đắc hãm

Điều 1: bảng của năm sao tự mâu thuẫn.

Tử Vi và Thất Sát được ghi là vô hãm địa mà chỗ khác lại nhắc hãm địa của chúng. Tham Lang có cung Tí ở cả vượng lẫn hãm. Thái Âm có hai bản trong cùng một trang. Thiên Cơ thì có tới bốn bảng. Tôi để cả năm chỗ ấy trong bài này chứ không giấu, vì một bảng tra không nói chỗ nó yếu thì không dùng được.

Điều 2: nhàn cung làm sao mất tới tám phần mười khả năng.

Đây là lớp thứ hai chồng lên lớp miếu hãm, và nó ít được nhắc hơn hẳn. Vào nhàn cung thì khả năng tốt của sao giảm tới 80%, hoặc gây thành tính kỳ quặc mà hỏng việc. Tôi vẫn tra nó cùng lúc với bảng miếu hãm, vì có cung vừa hãm vừa là nhàn cung của chính sao đó.

Điều 3: hư cát là sao tốt hờ, và nó nguy hơn sao xấu.

Một chính tinh ở hãm địa vẫn được các bảng mô tả bằng đúng những chữ đẹp như khi nó miếu địa. Thái Dương ở Tí là ví dụ sạch nhất: vẫn là mặt trời, nhưng là mặt trời lúc nửa đêm. Tôi cho rằng đây là chỗ khiến người tự học sai nhiều nhất, vì cái sai nằm ở chỗ tưởng mình đọc đúng.

Dùng bảng miếu hãm thế nào cho đỡ sai

Ba thói quen, làm được thì tránh được phần lớn lỗi:

Tra vị trí trước khi đọc mô tả. Xem sao đóng ở chi nào, đối chiếu bảng miếu hãm, rồi mới đọc phần mô tả tính chất. Làm ngược lại thì bạn đã có sẵn kết luận trong đầu trước khi biết nó có áp dụng được không.

Ghi lại nguồn bảng tra. Khi hai nguồn nói khác nhau, biết mình đang theo nguồn nào còn hơn là bối rối không biết tin ai.

Đừng đọc miếu hãm như tốt xấu. Miếu là đúng chỗ, hãm là sai chỗ. Một sao xấu đúng chỗ vẫn là chuyện tốt cho lá số, và đó chính là ý của hai chữ hư hung.

Câu hỏi thường gặp#

Miếu, vượng, đắc, hãm cái nào mạnh nhất?
Miếu mạnh nhất. Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư viết rằng còn có những danh từ khác chỉ sự đúng chỗ như vượng địa và đắc địa, tuy nhiên miếu địa vẫn là nhất. Thứ tự giảm dần là miếu, vượng, đắc, bình thường, hãm.
Sao xấu ở miếu địa thì có còn xấu không?
Sách gọi trường hợp này là hư hung, nghĩa là hung giả. Sao xấu đứng đúng chỗ thì không hung nữa, thậm chí hoá thành tốt. Ngược lại sao tốt ở hãm địa gọi là hư cát, tốt giả, và còn có thể quay thành xấu.
Có phải sao nào cũng có hãm địa không?
Không. Bảng miếu hãm trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư ghi Tử Vi và Thất Sát không có hãm địa. Nhưng chỗ khác trong cùng cuốn sách lại nhắc tới hãm địa của hai sao này, nên đây là điểm sách tự mâu thuẫn chứ không phải kết luận dứt khoát.

Nguồn tham khảo#

  • Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 17-18, 20-40, 62)