Vòng Tràng Sinh là gì? Luận giải chi tiết 12 chặng và 3 điều ít người biết

Vòng Tràng Sinh là 12 giai đoạn của một vòng đời ngũ hành: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nói rõ đây không phải tinh đẩu mà thuộc phần ngũ hành, dù trên lá số chúng được an vào 12 cung y như sao.
Trên lá số, mười hai chữ này được an vào mười hai cung y hệt cách người ta an sao: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
Nhiều sách viết là vòng Trường Sinh, cùng một thứ.
Trông như sao. Được an như sao. Nhưng Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nói thẳng một câu ngắn: vòng Tràng Sinh không phải là những tinh đẩu, và đẩy toàn bộ phần này sang chương luận về ngũ hành.
Vòng Tràng Sinh là gì
Vòng Tràng Sinh là mười hai giai đoạn của một vòng đời ngũ hành. Mỗi hành đều đi qua đủ mười hai giai đoạn từ lúc được sinh ra, lớn lên, đạt cực thịnh, suy tàn, chết đi, rồi thai nghén trở lại. Vòng khép kín và chạy mãi.
Mười hai chặng theo thứ tự:
| Chặng | Ví như giai đoạn nào của đời người |
|---|---|
| Tràng Sinh | vừa được sinh ra |
| Mộc Dục | đứa trẻ đang được tắm, còn non yếu |
| Quan Đới | biết đội nón chít khăn, bắt đầu lập nghiệp |
| Lâm Quan | công danh đang lên |
| Đế Vượng | cực thịnh |
| Suy | bắt đầu xuống sức |
| Bệnh | đau yếu |
| Tử | hết lực |
| Mộ | chôn cất, thu tàng |
| Tuyệt | dứt hẳn |
| Thai | kết thai trở lại |
| Dưỡng | nuôi trong bụng, chờ sinh |
Phần giảng nghĩa từng chặng dưới đây là lời của số Tử Bình, dẫn sang để đối chiếu chứ không phải lời đoán của tử vi:
Mộc Dục là lúc đứa trẻ vừa vào đất sống, đang được tắm rửa, còn non nớt yếu đuối. Vì vậy gặp Mộc Dục thì số đàn ông cô độc khắc cha mẹ con cái, số đàn bà phá bại nhà mình lẫn nhà chồng, đẻ con khó nuôi.
Quan Đới là lúc biết đội nón chít khăn để hưng gia lập nghiệp. Ban đầu bần hàn, càng về sau càng quý hiển. Nếu lại ở ngôi bản vị quý nhân thì tuổi trẻ đã đắc lộ thanh vân.
Lâm Quan và Đế Vượng ví như người vào tuổi bốn năm mươi, công đã thành danh đã toại, đang hưởng vinh hoa. Mệnh gặp hai chặng này thì gia nghiệp hưng long. Dù có thất vị thì danh cũng đã nhiều người biết đến.
Suy, Bệnh, Tử là giai đoạn già nua suy yếu của ngũ hành. Lực không còn theo tâm nữa, phải có sự phù giúp mới hanh thông được.
Mộ là chôn vùi. Đây là chặng có lời giảng lạ nhất trong cả vòng: nó đòi một sự xung phá thì cái uất kết của chôn vùi mới vỡ bung ra mà chuyển thành sự nghiệp mới. Nghĩa là Mộ không phải chỗ kết thúc, mà là chỗ chờ một cú đập.
Tuyệt đi ngay sau Mộ. Nếu cú xung phá kia không tới thì tới đây là diệt hẳn.
Thai là lúc trứng nước nảy nở, còn ngu si và dễ bị bóp chết.
Dưỡng là đã thành hình, giờ phải nuôi nấng, và ở chặng này hung với cát thường đi đôi với nhau.
Còn chặng Tràng Sinh mở đầu thì được gọi thẳng là đất sống của ngũ hành, gặp nó thì nhiều tài cán và sớm thành công.
Chú ý chữ “của ngũ hành” trong câu vừa rồi. Đây là điểm người mới hay hiểu sai nhất: gặp chặng Tử hay Tuyệt trong lá số không phải là nói về cái chết của bạn, mà là nói một hành đang ở đoạn cạn lực của vòng đời nó.
Vòng Tràng Sinh an thế nào trên lá số
Trong tử vi, vòng Tràng Sinh an theo cục chứ không theo thiên can năm sinh. Đây là chỗ rất dễ nhầm, vì âm dương học và số Tử Bình thì lại tính theo can.
| Cục | Tràng Sinh khởi tại |
|---|---|
| Thuỷ nhị cục và Thổ ngũ cục | Thân |
| Mộc tam cục | Hợi |
| Kim tứ cục | Tị |
| Hoả lục cục | Dần |
Từ chỗ khởi ấy, mười một chặng còn lại chạy tiếp theo thứ tự, chiều thuận hay nghịch tuỳ âm dương nam nữ. Với tử vi thì không dùng được danh từ âm dương can nữa, phải nói âm dương cục mới chính xác.
Đây cũng là lý do năm cục chỉ cho ra bốn vòng chứ không phải năm. Thuỷ cục và Thổ cục dùng chung một vòng.
Có thêm một bảng khởi vòng theo từng thiên can, nhưng đó là bảng của âm dương học đưa sang để đối chiếu với Tử Bình, không phải cách an trên lá số tử vi. Bảng ấy còn dính lỗi chữ: dòng Giáp can in Tràng Sinh tại Ngọ, trong khi ngay trang sau cùng sách lại viết tràng sinh của Giáp can khởi từ cung Hợi, và các chặng còn lại của chính dòng đó chỉ khớp nếu khởi ở Hợi.
Lộc Tồn nối vào vòng Tràng Sinh ở chỗ nào
Đây là chi tiết đáng giá nhất của cả vòng Tràng Sinh, và nó bị chôn trong một đoạn chú ngắn.
Sao Lộc Tồn được an theo hàng can của năm sinh, mỗi can một cung, ai học tử vi cũng thuộc bảng này. Điều tôi thấy ít người để ý là bảng ấy không phải một quy ước rời. Lộc Tồn chính là chặng Lâm Quan của vòng Tràng Sinh, tức giai đoạn phát triển cực thịnh của hàng can. Lâm Quan còn có tên khác là Lộc Kiến, và cái tên đó nói ra quan hệ.
Tôi kiểm bằng cách đặt hai bảng cạnh nhau, và bạn làm lại được:
| Can | Lâm Quan trong vòng Tràng Sinh | Lộc Tồn an tại |
|---|---|---|
| Giáp | Dần | Dần |
| Ất | Mão | Mão |
| Bính | Tị | Tị |
| Đinh | Ngọ | Ngọ |
| Mậu | Tị | Tị |
| Kỷ | Ngọ | Ngọ |
| Canh | Thân | Thân |
| Tân | Dậu | Dậu |
| Nhâm | Hợi | Hợi |
| Quý | Tí | Tí |
Mười can, mười dòng, khớp hết. Không lệch một ô nào.
Chỗ trùng khớp còn đi xa hơn. Trong vòng Tràng Sinh của âm dương học, Bính và Mậu đi chung một vòng, Đinh và Kỷ đi chung một vòng. Trong bảng an Lộc Tồn của tử vi, Bính với Mậu cùng đóng ở Tị, Đinh với Kỷ cùng đóng ở Ngọ. Hai chỗ gộp cặp giống hệt nhau.
Chính Vũ Tài Lục rút ra hai kết luận từ chỗ này. Thứ nhất, vòng Tràng Sinh quan trọng với lá số hơn nhiều so với chỗ đứng khiêm tốn của nó hiện nay, mà ta thì còn rất ít mấu cứ để nói về nó. Thứ hai, tên các sao chỉ là ký hiệu; cái chạy bên dưới là vận động của ngũ hành.
Với người đọc lá số, ý nghĩa thực tế là thế này: khi bạn thấy Lộc Tồn đóng ở một cung, bạn không chỉ đang thấy một sao tốt. Bạn đang thấy điểm mà hành của năm sinh bạn đạt cực thịnh trên vòng đời của nó.
Sách tự mâu thuẫn với chính nó ở chỗ nào
Mỗi chặng trong vòng còn được gán một hành, và đây là chỗ nên cẩn thận.
Chính Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư liệt kê bảng ngũ hành của vòng Tràng Sinh hai lần, ở trang 128-129 và trang 130-131. Hai bản không giống nhau:
| Chặng | Bảng thứ nhất | Bảng thứ hai |
|---|---|---|
| Lâm Quan | Mộc | Kim |
| Suy | Kim | Thuỷ |
| Tử | Hoả | Thuỷ |
Chín chặng còn lại thì hai bản khớp nhau. Sách còn nhắc bảng này lần thứ ba, và ở đó chặng Tuyệt lại thành Hoả trong khi hai bảng trên đều ghi Thổ. Nhưng ba chỗ vênh trong khoảng cách hai trang của cùng một cuốn sách là đủ để bạn không nên coi bất kỳ bảng nào là bản chuẩn duy nhất.
Chính Vũ Tài Lục cũng gạt vấn đề sang một bên bằng câu rằng có nhiều sách chép khác nhau về hành của mỗi sao, sách này bảo sao X thuộc thuỷ, sách khác bảo khác.
Vì sao tử vi Việt gọi 12 chặng này là sao
Chính Khoảng cách giữa hai bên được mô tả bằng đúng một cụm, và tôi thấy khó nói gọn hơn: khác hẳn như trắng với đen.
Trong âm dương học nói chung, vòng Tràng Sinh là quá trình thành trưởng, vượng thịnh rồi huỷ diệt của một hành. Bản Toàn Thư giữ đúng nghĩa ấy: không chỗ nào gọi Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới hay các chặng còn lại là một vị sao.
Thói quen của tử vi lưu hành thì gọi cả mười hai chặng là sao. Và đi thêm một bước nữa: gán cho mỗi “sao” ấy một hành trong ngũ hành. Đây là bước khiến người dịch phải lên tiếng. Ông viết rằng bảo Tràng Sinh thuộc Thuỷ, Mộc Dục thuộc Thuỷ, Quan Đới thuộc Kim, Tuyệt thuộc Hoả thì quả là chướng, là ngang đối với nguyên lý ngũ hành.
Lý do ông thấy chướng cũng dễ hiểu nếu bạn nhớ vòng này dùng để làm gì. Mười hai chặng vốn là mười hai trạng thái mà một hành bất kỳ đi qua. Hành Kim có vòng của Kim, hành Mộc có vòng của Mộc. Đem gán cứng cho chặng Tràng Sinh một hành Thuỷ thì hoá ra chặng Tràng Sinh của hành Kim cũng thuộc Thuỷ, và cái vòng vốn để mô tả một hành lại tự mang sẵn năm hành khác trong người.
Chuyện này có ảnh hưởng thật tới cách đọc. Nếu mười hai chặng là sao có hành, bạn sẽ đi tính sinh khắc giữa chúng với chính tinh trong cung. Nếu chúng là các chặng của một vòng đời, bạn chỉ đọc chúng như bối cảnh: hành đang xét đang lên hay đang cạn. Hai lối cho hai kết quả khác nhau, và bạn nên biết mình đang theo lối nào.
Chặng nào có sức nặng nhất khi luận lá số
Nếu vòng Tràng Sinh chỉ là bối cảnh thì nó có thật sự ảnh hưởng tới lời đoán không? Có, và bạn thấy được điều đó ngay trong phần phú của sách, nơi các chặng của vòng xuất hiện như điều kiện đi kèm.
Hai chặng được dùng làm mốc tốt là Tràng Sinh và Đế Vượng. Câu phú nói Mệnh tốt Thân tốt hạn tốt thì tới già vẫn vinh xương, và lời chú đi kèm nêu rõ trường hợp áp dụng: Thân Mệnh đóng ở Tràng Sinh hay Đế Vượng lại có cát tinh, đồng thời vận hạn cũng toàn sao tốt.
Ở đầu kia là Tuyệt. Câu phú đối nghịch nói mệnh suy thân suy hạn suy thì chung thân khất cái, và lời chú nêu điều kiện: Thân Mệnh cư Tuyệt địa, bản cung nhiều sao xấu, vận hạn cũng chẳng ra gì.
Hai câu ấy đủ cho thấy vòng Tràng Sinh không nằm ngoài lề. Nó là một trong các điều kiện mà phú dùng để phân biệt một lá số hạng nhất với một lá số hạng bét.
Chặng Tràng Sinh còn xuất hiện trong một câu phú theo chiều ngược lại, và đây là câu đáng nhớ nhất: Kiếp Không đóng ở nơi Tràng Sinh thì khác nào đang bay giữa tầng trời mà gãy cánh. Hình ảnh ấy chỉ đắt nếu Tràng Sinh vốn là chỗ đang lên: rơi từ chỗ thấp thì không gọi là gãy cánh giữa trời. Cùng ý ấy, câu phú về trước giàu sau nghèo lại lấy điều kiện là hạn đi tới Tuyệt địa mà gặp Kiếp Không.
Gộp lại, bốn câu phú trên dùng vòng Tràng Sinh theo đúng một cách: làm hệ số nhân. Chặng đang lên thì khuếch đại cả cái tốt lẫn cái mất; chặng đã cạn thì làm cái xấu nặng thêm và cái tốt khó cứu.
Ba điều ít người biết về vòng Tràng Sinh
Điều 1: Lộc Tồn chính là chặng Lâm Quan.
Ai học tử vi cũng thuộc bảng an Lộc Tồn theo hàng can, nhưng ít người để ý rằng bảng ấy không phải một quy ước rời. Lộc Tồn trùng khớp với chặng Lâm Quan của vòng Tràng Sinh ở cả mười can, và tên khác của Lâm Quan là Lộc Kiến. Tôi tự đặt hai bảng cạnh nhau để kiểm, và chúng khớp từng dòng.
Điều 2: sách tự mâu thuẫn về chính vòng này.
Một chỗ xếp vòng Tràng Sinh vào loại không phải tinh đẩu và hẹn nói ở chương ngũ hành, chỗ khác lại luận nó như luận sao. Tôi để chỗ vênh ấy nguyên trong bài chứ không chọn một vế, vì cả hai cách đọc đều đang được dùng ngoài đời.
Điều 3: gọi mười hai chặng này là sao là cách của tử vi Việt.
Riêng bản gốc mô tả chúng như các giai đoạn của một chu trình, không như tinh đẩu. Tiền nhân ta thì an chúng lên lá số và luận như sao. Đây là chỗ tôi khuyên bạn ghi rõ mình theo bản nào, vì hai cách cho hai trọng số rất khác nhau khi luận.
Dùng vòng Tràng Sinh thế nào
Vòng này ít khi tự nó quyết định điều gì. Nó là lớp bối cảnh cho biết hành đang xét đang ở đoạn nào của chu kỳ: đang lên, đang cực thịnh, hay đang cạn.
Cách dùng thực tế nhất là đọc nó cùng với cung và sao, không tách riêng. Một sao mạnh đóng ở cung có Đế Vượng khác với chính sao ấy đóng ở cung có Tuyệt, dù bảng tra sao ghi y hệt nhau.
Có một chi tiết nhỏ đáng để ý khi đọc chặng Mộ. Lời giảng nói Mộ cần một sự xung phá thì cái uất kết mới vỡ ra mà thành sự nghiệp mới, và đúng chữ “xung phá” ấy lại xuất hiện ở phần nạp âm khi sách tả hải trung kim là báu vật giấu dưới đáy biển, phải mượn xung phá mới lộ ra được. Hai chỗ cách nhau mấy chục trang, nói về hai thứ khác nhau, mà dùng chung một hình dung: cái bị vùi lấp không tự hiện ra, nó chờ một cú đập. Đó là dấu cho thấy các phần rời rạc của hệ thống này từng chạy trên cùng một bộ ý niệm.
Và nếu bạn thấy hai nguồn cho hành của một chặng khác nhau, đừng mất thời gian tìm bản đúng. Bản đúng có thể không tồn tại. Chọn một nguồn, ghi lại là mình theo nguồn nào, rồi giữ nhất quán trong cả lá số.
Câu hỏi thường gặp#
- Vòng Tràng Sinh có 12 sao phải không?
- Không đúng hẳn. Chúng được an vào 12 cung và trông giống sao, nhưng Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nói rõ vòng Tràng Sinh không phải là những tinh đẩu, và xếp chúng vào phần luận ngũ hành.
- Mười hai giai đoạn của vòng Tràng Sinh là gì?
- Theo thứ tự: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. Chúng mô tả trọn một vòng từ lúc sinh ra, lớn lên, cực thịnh, suy tàn, rồi thai nghén trở lại.
- Gặp giai đoạn Tử hay Tuyệt trong lá số có phải là điềm xấu không?
- Đây là các giai đoạn của một vòng ngũ hành chứ không phải dự báo sinh tử. Sách mô tả Suy, Bệnh, Tử là giai đoạn già nua suy yếu của ngũ hành, lực không còn theo tâm nữa và cần được phù giúp mới hanh thông, chứ không nói tới cái chết của người có lá số.
Nguồn tham khảo#
- Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 63, 126-133)