Tử Vi Việt

Kiến thức tử vi, tướng số và phong thuỷ Việt Nam

Ngũ hành trong tử vi là gì? Luận giải chi tiết và 3 điều ít người biết

· Đăng · Cập nhật · Nền tảng

Trả lời ngắn

Ngũ hành xuất hiện ở năm lớp trên một lá số: bản mệnh tính theo nạp âm, cục để tìm Tử Vi, hành của từng sao, hành của từng cung, và vòng Tràng Sinh. Nhưng theo Vũ Tài Lục, lối luận đoán bằng biện chứng ngũ hành nay gần như thất truyền, người xem số quay về dựa vào câu phú và cách cục có sẵn.

Mở một lá số ra, tôi thấy ngũ hành có mặt khắp nơi. Nhiều tới mức dễ tưởng đây là phần cốt lõi mà ai xem số cũng phải nắm.

Thực tế ngược lại. Đây là phần bị bỏ quên nhiều nhất, và người nói ra điều đó chính là dịch giả của cuốn sách gốc.

Ngũ hành nằm ở những lớp nào trên lá số

Bản mệnh. Dòng chữ ở ô giữa lá số, tính theo nạp âm: xa trung kim, lộ bàng thổ, thiên thượng hoả. Đây là hành của chính người có lá số.

Cục. Một trong năm dạng, dùng để an sao Tử Vi và để biết đại hạn khởi từ tuổi nào: Thuỷ nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hoả lục cục. Con số đi kèm chính là tuổi bắt đầu đại vận.

Hành của từng sao. Mỗi sao mang một hành. Thiên Cơ thuộc Mộc, Vũ Khúc thuộc Kim, Tử Vi thuộc Thổ.

Hành của từng cung. Mười hai cung là mười hai địa chi, và chi thì có hành. Thân Dậu thuộc Kim, Dần Mão thuộc Mộc.

Vòng Tràng Sinh. Mười hai chặng mô tả một vòng sinh trưởng rồi huỷ diệt của ngũ hành.

Lớp thứ ba và thứ tư gộp lại thành nguyên tắc giải thích miếu hãm: sao mang hành này đóng trên đất mang hành kia thì sinh hoặc khắc. Nguyên tắc ấy giải được nhiều ô trong bảng nhưng không giải được tất cả, và đó là một trong những chỗ Vũ Tài Lục để ngỏ.

Sơ đồ ngũ hành Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ xếp thành ngũ giác: vòng ngoài là chiều tương sinh, các đường chéo bên trong tạo ngôi sao là chiều tương khắc
Vòng ngoài là tương sinh (Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ…), ngôi sao bên trong là tương khắc (Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thuỷ…). Sao và cung sinh khắc nhau theo đúng hai chiều này.

Nạp âm thủ tượng là gì

Dòng bản mệnh ở ô giữa lá số không ghi trống một chữ Hoả hay một chữ Kim. Nó ghi một cụm ba chữ: thiên thượng hoả, lộ bàng thổ, xa trung kim. Cụm ấy gọi là nạp âm thủ tượng, và nó trả lời câu hỏi mệnh Hoả thì là thứ hoả nào.

Cách giải thích cổ nhất còn giữ được nằm trong cuốn Tam Mệnh Thông Hội: người xưa đem sáu mươi năm của một hoa giáp phân ra nặng nhẹ, rồi mượn hình ảnh cụ thể mà đặt tên cho từng cặp, thành ba mươi tượng. Mỗi hành sáu tượng, chia đều:

Hành Sáu tượng
Kim hải trung kim, sa trung kim, bạch lạp kim, thoa xuyến kim, kiếm phong kim, kim bá kim
Mộc đại lâm mộc, bình địa mộc, tùng bách mộc, thạch lựu mộc, dương liễu mộc, tang đố mộc
Thuỷ tuyền trung thuỷ, đại khê thuỷ, giản hạ thuỷ, thiên hà thuỷ, trường lưu thuỷ, đại hải thuỷ
Hoả sơn đầu hoả, phục đăng hoả, lư trung hoả, sơn hạ hoả, tích lịch hoả, thiên thượng hoả
Thổ ốc thượng thổ, sa trung thổ, thành đầu thổ, đại dịch thổ, lộ bàng thổ, bích thượng thổ

Ba mươi cái tên này không phải nhãn cho đẹp. Mỗi tượng có một lời giảng riêng về việc nó cần gì và sợ gì, và các lời giảng ấy khác hẳn nhau dù cùng một hành.

Hải trung kim là vàng ngọc giấu dưới đáy biển, nên nó cần xung phá mới lộ ra được, còn sức nóng thì chẳng giúp gì cho nó lúc còn nằm dưới đáy; phải chờ lộ ra rồi mới cần một thế hoả cực vượng để nung luyện. Bích thượng thổ là đất trát tường, mừng gặp mộc vì có kèo cột mới đứng được, sợ hoả thiêu và sợ đại hải thuỷ làm lụt đổ. Bình địa mộc là cây non mới trổ lá, cần mưa móc, sợ sương tuyết, và hợp với kim bá kim vì thứ kim ấy làm màu lá non thêm sáng.

Đáng chú ý nhất là thạch lựu mộc. Nó là nạp âm của Canh Thân và Tân Dậu, mà Canh Thân Tân Dậu thì can chi thuần Kim. Can chi một đằng, nạp âm một nẻo. Lời giảng phải chữa riêng rằng đó là do mộc biến ra. Người đọc hôm nay chỉ có thể ghi nhận một điều: nạp âm không suy thẳng ra từ can chi được.

Trên thực tế lá số, phần lớn người xem chỉ dùng chữ đầu của cụm ba chữ ấy, tức là hành. Năm chữ, thay cho ba mươi tượng. Đó là một trong những chỗ cụ thể mà lớp ngũ hành bị thu gọn lại.

Vì sao ngũ hành đáng lẽ phải là xương sống

Nếu xét kỹ thì tử vi là lối luận đoán số mệnh bằng biện chứng của ngũ hành. Sao và cung chỉ là bộ ký hiệu để diễn đạt các quan hệ sinh khắc ấy.

Đáng lẽ vậy. Nhưng Vũ Tài Lục viết thẳng trong phần bình chú rằng cách luận đoán số tử vi qua biện chứng ngũ hành nay gần như hoàn toàn bị mai một, không uyển chuyển kỹ càng bằng số Tử Bình.

Ông còn nói nặng hơn. Việc áp dụng lý ngũ hành cho số tử vi vì bị thất truyền nên trở nên quá đơn sơ, nếu không muốn nói là ngờ nghệch. Và tán hươu tán vượn tới đâu thì khi đoán, rốt cuộc người ta vẫn quay về các câu phú cùng những cách cục làm sẵn dựa trên sao. Biện chứng ngũ hành bị bỏ lại phía sau.

Đây là lời của người dành cả cuốn sách để dịch và bình chú tử vi, không phải lời của người ngoài chê môn này.

Sự đơn giản hoá để lại dấu vết nào

Chuyện thất truyền không chỉ là nhận định chung chung. Nó để lại dấu vết đo được.

Trong âm dương học, vòng Tràng Sinh đầy đủ có tám vòng: bốn cho dương can và bốn cho âm can, dương đi thuận, âm đi nghịch. Còn tử vi tính theo năm cục, mà Thuỷ cục và Thổ cục lại đi chung một vòng, nên tổng cộng chỉ còn bốn vòng.

Đem so ra thì vòng Tràng Sinh của tử vi thuần tính theo dương can, không có âm can.

Một hệ thống mười hai chặng đáng lẽ chạy tám biến thể, khi vào tử vi chỉ còn bốn. Nửa số trường hợp biến mất, và không cuốn sách nào giải thích chúng đã đi đâu.

Dấu vết thứ hai nằm ở chính cái cục. Cục là mắt xích quan trọng bậc nhất: nó quyết định chỗ đóng của sao Tử Vi, tức là kéo theo vị trí của cả mười bốn chính tinh, và nó ấn định tuổi khởi đại vận. Vậy cục được rút ra từ nguyên tắc ngũ hành nào?

Chỉ có thao tác. Gọi cung Dần là tháng Giêng, đếm thuận tới tháng sinh, từ đó đếm nghịch tới giờ sinh thì an được cung Mệnh; rồi lấy hàng can của năm sinh ghép với địa chi của cung Mệnh mà thành cục. Làm theo thì ra kết quả. Hỏi vì sao lại làm thế thì hết.

Chính Vũ Tài Lục đặt đúng câu hỏi đó, và câu trả lời của ông là lời giảng đã theo Hi Di Trần Đoàn nằm dưới lòng đất cả ngàn năm rồi. Ông thêm rằng có vài cuốn định giảng nhưng người đọc chẳng thấy gì, nên đành chờ tiếp.

Ông cũng rút ra kết luận chung từ chỗ này: sao chỉ là một cách nói, tên mỗi sao chỉ là ký hiệu, còn số mệnh thì xuất phát từ vận động của ngũ hành. Chỉ có điều nguyên lý ấy mất từ lâu, nên nay người ta giải đoán bằng một số công thức làm sẵn thay vì bằng lý ngũ hành. Ông gọi đó là thiệt thòi lớn cho tử vi học, và là lý do khiến nhiều lúc môn này trông giống một thuật hơn là một khoa.

Sinh và khắc vận hành thế nào

Sơ đồ ở trên vẽ hai vòng: vòng ngoài tương sinh, ngôi sao bên trong tương khắc. Đó là mức mọi bài giới thiệu ngũ hành đều dừng lại.

Lý ngũ hành thì không dừng ở đó. Nó còn ít nhất năm tầng nữa, và đọc hết năm tầng ấy mới thấy chữ “đơn sơ” dành cho tử vi nặng tới mức nào.

Sinh mà quá tay thì thành hại. Kim nhờ Thổ sinh, nhưng thổ nhiều thì kim bị chôn vùi. Mộc nhờ Thuỷ sinh, nhưng thuỷ tràn thì mộc trôi. Thuỷ nhờ Kim sinh, nhưng kim nhiều thì thuỷ đục.

Sinh cũng làm hao kẻ đi sinh. Kim sinh Thuỷ, nhưng thuỷ nhiều quá thì kim chìm. Mộc sinh Hoả, nhưng hoả nhiều quá thì mộc cháy tiêu. Cho nên ở thế này, được sinh chưa chắc đã là được lợi, mà đi sinh thì chắc chắn có mất.

Khắc có thể phản lại kẻ khắc. Kim khắc được Mộc, nhưng gặp mộc cứng thì kim sứt mẻ. Thuỷ khắc được Hoả, nhưng hoả nhiều thì thuỷ sôi lên. Quan hệ khắc vì thế không phải một mũi tên một chiều mà là một phép so lực.

Hành quá mạnh cần chỗ thoát, không cần kẻ trị. Có liền năm câu theo cùng một khuôn: cường Kim được Thuỷ mới tiết bớt sức, cường Thuỷ được Mộc mới bớt thế, cường Mộc được Hoả mới bớt ngang ngạnh, cường Hoả được Thổ mới ngừng hoành hành, cường Thổ được Kim mới chế được hại. Chú ý là cả năm câu đều dùng hành mà nó sinh ra, chứ không dùng hành khắc nó.

Chiều sinh có thể đảo ngược. Đây là tầng khiến sơ đồ hai vòng gần như vô dụng. Mộc sinh Hoả, nhưng Hoả cũng sinh Mộc được, bằng cách làm trời ấm cho cây khỏi cóng rét. Thuỷ sinh Mộc, nhưng Mộc cũng sinh Thuỷ được, bằng cách khơi thông chỗ ứ tắc. Kim sinh Thuỷ, mà Thuỷ cũng sinh Kim được, bằng cách chế ngự tính khốc liệt của Hoả.

Chính Vũ Tài Lục khép phần này bằng nhận xét rằng vận động biện chứng của ngũ hành thì miên man bao la, không phải chỉ có thụ chế mà thôi, và hẳn Trần Đoàn đã đặt tử vi vào trong vận động đó, chỉ vì thất truyền nên nay không còn lời giảng chính xác.

Đặt cạnh nhau thì khoảng cách hiện rõ. Một bên là hệ thống biết phân biệt giữa được sinh và bị chôn vùi, giữa khắc thắng và khắc mà sứt mẻ. Bên kia là cách dùng ngũ hành phổ biến trong tử vi hôm nay: sao hành này đóng trên cung hành kia, sinh thì tốt, khắc thì xấu.

Tử Bình làm khác chỗ nào

Tử Bình, còn gọi là Bát Tự, dùng đúng tám chữ can chi của giờ ngày tháng năm sinh, rồi luận thẳng bằng tương quan sinh khắc giữa tám chữ ấy. Không có sao, và cách cục của nó suy ra từ sinh khắc chứ không phải tra từ bảng làm sẵn.

Chính Vũ Tài Lục dẫn ra một ví dụ để cho thấy sức phân giải của lối luận này: hai nữ diễn viên Trung Quốc là Lâm Đại và Nguyễn Linh Ngọc, sinh ngày tháng năm giờ khác hẳn nhau nhưng cuộc đời trùng nhau tới tám điểm, từ nhan sắc, mất tình thương của cha từ thuở nhỏ, theo nghề điện ảnh, thành minh tinh, cho tới cách kết thúc đời mình.

Lá số tử vi của hai người sẽ khác nhau vì các sao rơi vào chỗ khác nhau. Bát tự thì cho thấy chỗ giống nằm ở tầng khác. Cả hai lá đều mất cân bằng ngũ hành tới mức cực đoan, nhưng lệch về hai phía ngược nhau: Lâm Đại có nhật chủ Bính hoả quá cường liệt, còn Nguyễn Linh Ngọc có nhật chủ Kỷ thổ quá nhược, yếu tới mức không tự đứng được.

Điều này không có nghĩa Tử Bình hơn tử vi. Nó có nghĩa hai môn nhìn cùng một dữ kiện qua hai lăng kính, và lăng kính ngũ hành trong tử vi hiện đang bị dùng ở mức nông nhất có thể.

Ba điều ít người biết về ngũ hành trong tử vi

Điều 1: bản mệnh không ghi một chữ hành, nó ghi một cụm ba chữ.

Thiên thượng hoả, lộ bàng thổ, xa trung kim. Cụm ấy gọi là nạp âm thủ tượng, và nó trả lời câu hỏi mệnh Hoả thì là thứ hoả nào. Trên thực tế thì phần lớn người xem chỉ dùng chữ đầu, tức năm chữ thay cho ba mươi tượng. Tôi coi đó là dấu vết đo được của chuyện hệ thống này đã bị thu gọn.

Điều 2: phần quy tắc luận bằng ngũ hành đã mất, không phải chưa ai học.

Đây là chỗ tôi thấy đáng nói nhất. Người dịch bản Toàn Thư ghi rằng cái nguyên lý ngũ hành áp dụng riêng cho khoa này đến nay vẫn chưa ai làm sách giảng ra, vì nguồn gốc của nó đã thất lạc. Nên khi ai đó luận ngũ hành cho bạn nghe rất chắc, phần chắc ấy thường đến từ suy diễn chứ không từ một bộ quy tắc còn nguyên.

Điều 3: Tử Bình dùng ngũ hành theo cách khác hẳn.

Hai khoa cùng dùng can chi và ngũ hành, nhưng Tử Bình đặt ngũ hành làm xương sống còn tử vi đặt tinh đẩu làm xương sống. Tôi nêu chuyện này ra vì người học cả hai hay mang thói quen của khoa này sang khoa kia, và đó là chỗ sinh ra những lời luận nghe hợp lý mà không có gốc.

Bạn còn dùng ngũ hành vào việc nào

Thực tế thì theo tôi gần như không ai luận tử vi thuần bằng ngũ hành nữa, và cũng không có sách hướng dẫn đầy đủ để học lại lối ấy.

Nhưng ba việc dưới đây vẫn dùng ngũ hành, và bạn gặp chúng ngay từ lá số đầu tiên:

Miếu hãm của một sao là quan hệ giữa hành của sao và hành của cung. Cục quyết định tuổi khởi đại vận. Vòng Tràng Sinh cho biết một hành đang ở đoạn thịnh hay đoạn cạn.

Tôi thêm một việc thứ tư, ít ai nhắc: đọc kỹ cụm nạp âm ba chữ của bản mệnh thay vì chỉ lấy chữ hành. Nó không cho bạn thêm quy tắc luận nào, vì phần quy tắc chính là chỗ đã mất. Nhưng nó cho bạn biết hệ thống này từng phân biệt tinh tới mức nào, và biết vậy thì bạn đỡ tin ngay một lời luận ngũ hành nghe rất chắc mà thực ra chỉ dựa trên năm chữ.

Ba việc đó, tôi cho là đủ để bạn không đọc lá số như đọc một bảng tra tên sao. Còn lớp biện chứng sâu hơn thì, theo đúng lời người dịch cuốn sách gốc, đang nằm ở chỗ chưa ai dựng lại được.

Câu hỏi thường gặp#

Ngũ hành trong tử vi nằm ở những đâu?
Năm chỗ: bản mệnh tính theo nạp âm như xa trung kim hay lộ bàng thổ, cục để tìm vị trí sao Tử Vi, hành của từng sao, hành của từng cung địa chi, và vòng Tràng Sinh mô tả sinh trưởng huỷ diệt của ngũ hành.
Cục trong tử vi là gì?
Cục là một trong năm dạng dùng để an sao Tử Vi và để tính đại hạn bắt đầu từ tuổi nào: Thuỷ nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hoả lục cục. Con số đi kèm chính là tuổi khởi đại vận.
Tử vi và Tử Bình khác nhau ở chỗ nào?
Cả hai cùng dựng trên âm dương ngũ hành, nhưng Tử Bình luận trực tiếp bằng tương quan sinh khắc của tám chữ, còn tử vi luận qua sao và cách cục. Vũ Tài Lục cho rằng cách áp dụng ngũ hành của tử vi đơn sơ hơn hẳn Tử Bình vì phần này đã bị mai một.

Nguồn tham khảo#

  • Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 121-134)