12 cung trong tử vi là gì? Luận giải chi tiết 12 cung và 3 điều ít người biết

Mười hai cung trên lá số làm ba việc cùng lúc: chia đời sống thành 12 mảng, đại diện cho 12 hàng chi để định ngũ hành hợp xung, và quy định sao nào miếu sao nào hãm khi đóng tại đó. Bốn cung liên quan tới nhau qua thế tam hợp, thế xung chiếu và hai cung lân phương.
Gần như mọi bài giới thiệu tử vi đều nói mười hai cung là mười hai mảng đời sống, rồi liệt kê ra: Mệnh là bản thân, Tài Bạch là tiền bạc, Phu Thê là vợ chồng. Đúng, nhưng đó mới là một phần ba công việc mà mười hai cung đang làm.
Thật ra mười hai cung mang ba nhiệm vụ cùng lúc. Biết đủ ba thì nhiều thứ về sau tự sáng ra, nhất là chuyện vì sao cùng một sao mà lá số này tốt lá số kia xấu.
12 cung trong tử vi làm những nhiệm vụ nào
Việc thứ nhất: chia đời sống thành mười hai mảng. Đây là phần ai cũng biết. Cũng là phần duy nhất mà phần lớn bài viết trên mạng nhắc tới.
Việc thứ hai: đại diện cho mười hai hàng chi. Mỗi ô trên địa bàn mang một chi cố định, từ Tí, Sửu, Dần cho tới Hợi, và vị trí này không bao giờ đổi. Chi thì có ngũ hành, có hợp có xung. Nên khi bạn nói “cung Mệnh ở Dậu”, bạn không chỉ nói vị trí, bạn đang nói cung Mệnh nằm trên đất Kim.
Việc thứ ba: quy định sao nào miếu sao nào hãm. Mỗi chính tinh có những chi hợp với nó và những chi khắc nó. Thái Dương ở Ngọ là miếu, cũng chính Thái Dương ấy ở Hợi lại hãm. Không phải sao đổi, mà đất dưới chân nó đổi.
Việc thứ hai và thứ ba dính vào nhau: quan hệ sinh khắc giữa hành của sao và hành của cung chính là nguyên tắc giải thích miếu hãm.
Nắm được điều này thì bạn hết bị bảng tra sao trên mạng dẫn đi sai. Câu “tôi có sao X ở cung Mệnh” chưa nói lên gì cho tới khi thêm vế “và cung Mệnh của tôi ở chi nào”.
Mỗi cung chủ về việc gì
Từng cung chủ về việc gì, và có vài chỗ lệch đáng chú ý so với cách gọi phổ thông hôm nay:
- Mệnh: dung mạo, tài năng, nhân cách, trình độ phát triển.
- Phụ Mẫu: cát hung của cha mẹ, duyên phận mình với cha mẹ, ân huệ nhận được.
- Huynh Đệ: anh em ruột thịt và bằng hữu thân thiết.
- Phu Thê: quan hệ vợ chồng, hình dáng người bạn đời, đời sống vật chất lẫn tinh thần của người ấy.
- Nam Nữ: con cái và sinh hoạt tình dục. Tên gốc là Nam Nữ, tử vi Việt quen gọi Tử Tức.
- Tài Bạch: mạnh yếu của năng lực kinh tế, tài chính, và tình hình thực lợi của sự nghiệp.
- Tật Ách: thể chất và sức khoẻ.
- Thiên Di: quan hệ của mình với xã hội và với bên ngoài.
- Nô Bộc: người cộng tác, gia nhân, thuộc cấp.
- Quan Lộc: cát hung của chức nghiệp công danh.
- Điền Trạch: sinh hoạt gia đình và bất động sản.
- Phúc Đức: thọ yểu và mức độ hưởng thụ trong đời.
Chú ý cung Tài Bạch. Nó ôm cả thực lợi của sự nghiệp chứ không riêng tiền bạc, nên đọc cung này mà tách khỏi cung Quan Lộc là đọc hụt.
Vì sao chỉ mười cung có lời đoán riêng
Chương Thập nhị cung luận mở đầu bằng cách kể đủ mười hai cung như bạn vừa đọc ở trên. Nhưng tới phần giải đoán thì các mục được đánh số, và số dừng ở mười.
Nhất cung Mệnh. Nhị Thiên Di. Tam Quan Lộc. Tứ Tài Bạch. Ngũ Phu Thê. Lục Phúc Đức. Thất Phụ Mẫu. Bát Nô Bộc. Cửu Điền Trạch. Thập Tật Ách.
Đếm lại thì thiếu hai: Huynh Đệ và Tử Tức. Hai cung này có tên trong danh sách mở đầu, nhưng không được cấp mục riêng nào.
Không phải sót. Vũ Tài Lục nói thẳng lý do, và lời khá nặng: phần chính văn về hai cung này quá tầm thường, quanh đi quẩn lại chỉ là sao này gặp sao kia thì anh em có hai hay ba hay bốn người, con cái hai, ba hay bốn đứa. Xét cả về lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế thì đều không thể đúng.
Nên ông làm một việc mà người dịch hiếm khi làm: ông bỏ phần chính văn đi, và thay bằng phú đoán nôm của tiền nhân Việt Nam, với lý do phú nôm ở hai cung này hay hơn bản gốc nhiều lắm.
Chuyện đó đáng để bạn biết vì hai lẽ. Thứ nhất, nếu bạn tra một lời đoán về cung Huynh Đệ hay cung Tử Tức rồi thấy nó ghi nguồn là Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, khả năng cao lời ấy thực ra là phú nôm Việt Nam chứ không phải văn bản Trung Hoa. Thứ hai, nó cho thấy cuốn sách gốc không mạnh đều ở mọi phần, và người dịch cũng không coi nó là bất khả xâm phạm.
Cung Thân nằm ở cung nào trên lá số
Cung Thân trôi. Nó không được cấp một ô riêng mà chồng lên một cung khác, và chỉ có đúng sáu khả năng: đồng cung với Mệnh, hoặc rơi vào Phúc Đức, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di, Phu Thê. Cung Thân không bao giờ nằm ở Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tức, Tật Ách, Nô Bộc hay Điền Trạch.
Chính chỗ nó rơi vào đã là một dữ kiện. Thân cư Quan Lộc và Thân cư Phu Thê nói hai chuyện khác hẳn nhau về việc nửa đời sau của một người xoay quanh cái gì. Riêng trường hợp Thân đồng cung với Mệnh thì sách đoán rằng tốt sẽ tăng tốt, mà xấu lại càng xấu.
Cường cung và nhược cung là gì
Mười hai cung không ngang hàng nhau. Chúng được chia làm hai hạng, và hạng nào quan trọng thì lại khác nhau giữa số nam với số nữ.
| Cường cung | |
|---|---|
| Số nam | Thân, Mệnh, rồi Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di |
| Số nữ | Thân, Mệnh, rồi Phu Thê, Phúc Đức, Tử Tức |
Các cung còn lại xếp vào hàng thứ yếu, gọi là nhược cung.
Bảng này nói khá nhiều về thời đại đẻ ra nó. Cường cung của nam gồm tiền bạc, chức nghiệp và quan hệ ngoài xã hội. Cường cung của nữ gồm chồng, phúc phận và con cái. Đó là bản đồ đời sống của một xã hội trong đó đàn ông ra ngoài còn đàn bà ở nhà, và bạn đọc nó như đọc một văn bản có niên đại chứ không phải một quy luật của vũ trụ.
Nhưng phần cấu trúc thì vẫn dùng được, và đây mới là chỗ đáng giữ. Ý của khái niệm cường cung là: khi luận một lá số, không phải mười hai cung đều được đọc kỹ như nhau. Có một nhóm nhỏ mang phần lớn sức nặng, và phần còn lại chỉ được xét khi câu hỏi cụ thể chạm tới chúng.
Trên thực tế hôm nay, nhiều người luận số vẫn giữ cách chia hai hạng nhưng bỏ vế phân theo giới tính, lấy chung Thân, Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di, Phúc Đức làm nhóm nặng. Đó là một chỗ tử vi đương đại đã lặng lẽ đi khỏi bản gốc, và biết mình đang dùng bản nào thì hơn.
Tam hợp trong tử vi là gì
Tam hợp là ba cung cách đều nhau bốn ô, nối lại thành một tam giác đều trên địa bàn. Một cung không bao giờ đứng một mình, và tam hợp là thế đầu tiên nối nó với các cung khác.
Có đúng bốn bộ: Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất, Tị Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi.
Nên cung Mệnh ở Mão thì tam hợp là Hợi và Mùi. Cung Mệnh ở Dần thì tam hợp là Ngọ và Tuất.
Sao nằm ở hai cung kia vẫn tính vào khi luận cung Mệnh, dù chúng không đóng ở đó. Các cung này gọi là hợp phương, còn sao chiếu về từ đó gọi là khách, phân biệt với sao chủ đóng ngay tại cung đang xét.
Xung chiếu là gì và có phải lúc nào cũng xấu
Xung chiếu là cung nằm đối diện qua tâm địa bàn. Sáu cặp cố định:
Tí đối Ngọ. Sửu đối Mùi. Dần đối Thân. Mão đối Dậu. Thìn đối Tuất. Tị đối Hợi. Sáu cặp, không có ngoại lệ.
Chữ “xung” dễ làm người mới tưởng cung này luôn mang chuyện xấu. Không phải. Phân biệt là theo tính chất sao chứ không theo vị trí: sao tốt đóng ở cung khác, dù là cung tam hợp hay cung đối diện, chiếu về cung đang xét thì gọi là triều. Cũng vị trí ấy mà sao xấu chiếu về mới gọi là xung.
Vài sao còn có chữ riêng. Thái Âm và Thái Dương không dùng chữ triều mà dùng chiếu. Lộc Tồn và Hoá Lộc không dùng chữ triều mà dùng củng.
Giáp và lân phương là gì
Hai cung nằm sát hai bên cung đang xét gọi là lân phương. Khi hai sao tốt đóng đúng vào hai ô kẹp ấy thì gọi là giáp, như giáp Nhật Nguyệt hay giáp Tả Hữu.
Trong tử vi lưu truyền một câu xếp hạng ba thế: chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp. Nghĩa là sao đóng ngay tại cung chưa chắc mạnh bằng sao chiếu về, và sao chiếu về chưa chắc mạnh bằng hai sao kẹp hai bên.
Nhưng câu này không áp dụng cho mọi sao. Thái Âm và Thái Dương cần chiếu, còn Tả Phụ Hữu Bật mới cần giáp. Đây là kiểu câu dễ bị chép lại như một quy tắc chung, trong khi bản thân nó có phạm vi hẹp.
Mỗi cung được luận theo khuôn nào
Mười mục giải đoán ấy viết cùng một khuôn, và nhận ra khuôn ấy thì bạn đọc bảng tra nào cũng nhanh hơn.
Mỗi mục xếp theo chính tinh chứ không xếp theo tình huống. Vào mục Tài Bạch thì gặp lần lượt: có sao Tử Vi thì thế này, có sao Thiên Cơ thì thế kia, hết mười bốn chính tinh. Trong từng mục nhỏ ấy lại có một lời đoán nền, rồi một chuỗi biến thể tuỳ theo sao đó gặp ai và đứng ở đâu.
Lấy đúng một dòng làm mẫu. Thái Dương ở cung Tài Bạch, nhập miếu thì no đủ sung túc, ở hãm địa thì vất vả khốn khó; đi cùng Thái Âm lại thêm Tả Hữu thì phát tài lớn; đi cùng Lộc Tồn thì đại phú; đi cùng Cự Môn thì thành thành bại bại.
Một sao, một cung, năm kết quả. Và cái phân biệt năm kết quả ấy chỉ gồm hai thứ: sao đó đứng ở miếu hay hãm, và nó đi với ai.
Có một dòng ở cung Quan Lộc phá thẳng cái định kiến hay gặp nhất. Thiên Cơ nhập miếu tại Quan Lộc thì quyền quý, hội Văn Khúc thì làm lương thần, rồi thêm một vế: phải thấy Kình Dương, Đà La, Linh Tinh, Hoả Tinh mới tốt. Bốn cái tên vừa kể đều là sát tinh. Ở đây sách nói thẳng rằng thiếu chúng thì cách không thành.
Nên câu “lá số tôi có sát tinh, chắc xấu” là câu đọc hụt. Sát tinh trong tử vi giống gia vị mạnh hơn là chất độc: đúng chỗ thì làm nên món, sai chỗ thì hỏng cả nồi.
Khuôn này còn kèm một luật đọc, nêu ngay ở mục Tật Ách. Trước khi xem cung Tật Ách, phải xem chính tinh ở cung Mệnh ra sao, miếu hay hãm, có bị Tứ Sát xung phá không, rồi mới gộp cả hai cung lại mà đoán.
Câu ấy ngắn nhưng theo tôi là bản rút gọn của cả bài này. Ngay trong một hệ thống xếp lời đoán theo từng cung riêng, đến lúc hướng dẫn thao tác thật thì vẫn buộc bạn đọc kèm cung khác.
Ba điều ít người biết về 12 cung
Điều 1: mười hai cung làm ba việc, không phải một.
Gần như mọi bài giới thiệu đều dừng ở việc thứ nhất, tức chia đời sống thành mười hai mảng. Hai việc còn lại ít được nhắc mà lại quan trọng không kém: mười hai cung còn là mười hai hàng chi để định ngũ hành hợp xung, và là nơi phân định miếu địa hãm địa cho các sao. Tôi cho rằng bỏ hai việc sau là lý do nhiều người tra bảng xong vẫn không luận được.
Điều 2: chỉ mười trên mười hai cung có lời đoán riêng.
Chương thập nhị cung của bản gốc dựng lời đoán chi tiết cho từng cung theo từng chính tinh, nhưng không phải cung nào cũng được. Đây là một khoảng trống trong tài liệu chứ không phải dụng ý, và tôi nhắc nó ra vì người mới hay tưởng cứ có cung là có lời đoán sẵn.
Điều 3: chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp.
Câu xếp hạng ba thế này lật ngược trực giác thông thường. Sao đóng ngay tại cung chưa chắc mạnh bằng sao chiếu về, và sao chiếu về chưa chắc mạnh bằng hai sao kẹp hai bên. Tôi giữ câu ấy trong đầu mỗi khi thấy một cung trống: cung trống trên giấy không phải cung trống khi luận.
Vì sao không đọc được một cung đứng riêng
Gộp lại, mỗi lần đọc một cung là bạn đang đọc bốn ô trên địa bàn: cung đó, hai cung tam hợp, và cung xung chiếu. Thêm hai cung lân phương nếu xét thế giáp.
Con số bốn ấy chưa kể lớp thời gian. Thêm cung đại hạn đang đi qua và cung tiểu hạn của năm đang xét thì số ô phải nhìn còn tăng nữa. Nên cảm giác tử vi rắc rối không đến từ chuyện có nhiều sao phải thuộc. Nó đến từ chuyện mỗi kết luận đều là giao của nhiều ô, mà người mới thì quen đọc từng ô một.
Đây là lý do không thể mở lá số ra rồi nhảy thẳng vào cung Phu Thê để xem chuyện tình cảm. Cung Phu Thê chỉ là một trong bốn ô cần đọc cùng nhau, và ba ô kia hoàn toàn có thể lật ngược kết luận rút ra từ ô đầu tiên.
Câu hỏi thường gặp#
- Tam hợp trong tử vi là gì?
- Là ba cung cách đều nhau bốn ô trên địa bàn, tạo thành một tam giác đều. Cung Mệnh ở Mão thì tam hợp là Hợi và Mùi. Sao ở hai cung kia vẫn góp vào việc luận cung Mệnh dù không đóng tại đó.
- Xung chiếu là gì và có phải lúc nào cũng xấu không?
- Xung chiếu là cung nằm đối diện qua tâm địa bàn. Sáu cặp cố định: Tí đối Ngọ, Sửu đối Mùi, Dần đối Thân, Mão đối Dậu, Thìn đối Tuất, Tị đối Hợi. Sao tốt chiếu sang gọi là triều chứ không phải xung, nên cung xung chiếu không mặc nhiên xấu.
- Cung Thân nằm ở đâu?
- Cung Thân không có ô riêng. Nó trôi và chồng lên một trong các cung khác, thường gặp nhất ở Phúc Đức, Quan Lộc, Tài Bạch, Thiên Di hoặc Phu Thê. Vị trí nó rơi vào đã là một dữ kiện để luận.
Nguồn tham khảo#
- Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 17, 63-64, 78-93)