Tử Vi Việt

Kiến thức tử vi, tướng số và phong thuỷ Việt Nam

Lá số tử vi gồm những gì? Cách đọc chi tiết và 3 điều ít người biết

· Đăng · Cập nhật · Nền tảng

Trả lời ngắn

Một lá số gồm 12 cung xếp quanh một hình vuông, mỗi cung chứa vài sao. Mọi lời luận giải đều dựng từ ba thứ: cung nào, sao nào, và sao đó có đứng đúng chỗ hay không. Bỏ vế thứ ba là chỗ người mới sai nhiều nhất, vì một sao tốt đứng sai chỗ không còn tốt nữa.

Lần đầu nhìn một lá số, thứ đập vào mắt là chữ. Mấy chục cái tên sao chen trong mười hai ô vuông, phần lớn là từ Hán Việt bạn chưa gặp bao giờ. Cảm giác thường thấy là phải học thuộc hết đống tên đó thì mới bắt đầu hiểu được.

Không phải vậy. Cấu trúc của một lá số đơn giản hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó, và nắm cấu trúc trước thì các tên sao tự có chỗ để rơi vào.

Lá số tử vi là gì

Lá số tử vi là một hình vuông chia thành mười hai ô, gọi là địa bàn. Mười hai ô xếp vòng quanh mép, ô giữa để trống cho thông tin cá nhân: ngày giờ sinh dương lịch và âm lịch, bản mệnh, cục.

Sơ đồ địa bàn lá số tử vi: 12 ô vuông xếp quanh mép mang 12 địa chi cố định từ Tí tới Hợi, ô giữa là thiên bàn ghi ngày giờ sinh, bản mệnh và cục
Khung địa bàn của mọi lá số. Tên 12 chi in cố định; 12 cung chức năng và các sao được an vào sau theo tháng sinh và giờ sinh.

Mười hai ô ấy là mười hai cung, mỗi cung phụ trách một mảng đời sống: Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Bạch, Tử Tức, Phu Thê, Huynh Đệ. Vài cái tên nói thẳng ra nội dung, vài cái thì không: Thiên Di là chuyện ra ngoài và đi xa, Tật Ách là sức khoẻ và tai ương, Nô Bộc là người dưới quyền và bạn bè.

Vị trí mười hai cung không cố định. Chúng được an vào địa bàn theo tháng sinh âm lịch và giờ sinh, nên hai người cùng ngày sinh mà khác giờ sẽ có cung Mệnh nằm ở hai ô khác nhau.

Rải vào mười hai cung đó là các sao, và số lượng thì tuỳ nguồn. Bản Toàn Thư của Trần Đoàn có 85 sao. Tử vi truyền lại ở Việt Nam có tới 104, thêm Đào Hoa, Cô Thần, Quả Tú và hàng chục vị nữa. Chỗ thêm vào ấy dựa trên căn cứ gì thì ngay người dịch cũng nói là không rõ.

Bạn sẽ gặp lại chuyện này nhiều lần khi đọc sâu hơn. Tử vi không phải một hệ thống thống nhất, mà là nhiều lớp chồng lên nhau qua nhiều thế kỷ, và các phái không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau.

Trong số đó, mười bốn sao được gọi là chính tinh: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân. Chúng quyết định phần lớn nội dung một lá số, và mười bốn cái tên này đáng thuộc.

Con số mười bốn cũng không phải ai cũng đồng ý. Phái đẩu số mệnh lý xếp cả Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Lộc Tồn vào hàng chính tinh. Cổ truyền tử vi Việt Nam bám bản Toàn Thư nên giữ đúng mười bốn.

Số sao còn lại là phụ tinh và sát tinh. Chúng không tự dựng nên tính chất một cung mà làm mạnh lên hoặc phá vỡ cái mà chính tinh đã dựng.

Trên lá số còn những gì nữa

Ngoài cung và sao, có bốn thứ nữa in sẵn trên mọi lá số mà người mới thường không biết gọi tên. Chưa cần luận, chỉ cần nhận mặt.

Cung Thân. Một cung thứ hai được đánh dấu ngay trên địa bàn, nằm chồng lên một trong mười hai cung. Nó nghiêng về nửa đời sau và luôn đọc cùng cung Mệnh.

Đại hạn và tiểu hạn. Dãy số in trong từng cung, cho biết cung nào cai quản giai đoạn nào của đời người. Đây là lớp thời gian, và là thứ người ta tra nhiều nhất khi muốn biết năm nay ra sao.

Tứ Hoá. Bốn sao Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa, Hoá Kị, in kèm ngay cạnh tên một chính tinh. Chúng đổi tính chất của chính sao mà chúng bám vào.

Tuần và Triệt. Hai vạch nằm giữa hai cung chứ không đóng tại cung nào. Trong tử vi Việt, chúng có thể đảo ngược cả một cung, và đó là lý do hai vạch trông vô hại này đáng để dành một bài riêng.

Ba thứ tạo nên mọi lời luận giải

Bất kỳ câu luận giải nào bạn từng đọc, dù dài dòng tới đâu, cũng chỉ dựng từ ba dữ kiện.

Cung nào. Sao đang nằm ở mảng đời sống nào. Cùng một sao Vũ Khúc, đóng ở Tài Bạch nói chuyện tiền bạc, đóng ở Phu Thê nói chuyện vợ chồng.

Sao nào. Chính tinh nào đóng tại đó, kèm những phụ tinh và sát tinh nào.

Đứng đúng chỗ hay không. Mỗi sao có những cung địa chi hợp với nó và những cung khắc nó. Đúng chỗ nhất là miếu, kém hơn một bậc là vượng, rồi tới đắc. Sai chỗ gọi là hãm.

Vế thứ ba là vế người mới hay bỏ. Cũng dễ hiểu vì sao: hai vế đầu tra bảng là ra, còn vế thứ ba đòi biết thêm một lớp quy tắc nữa. Nhưng bỏ nó thì mọi kết luận rút ra đều không đáng tin.

Chính sách gọi thẳng tên hiện tượng này bằng hai chữ hư và thực. Sao tốt đứng đúng chỗ là thực cát, tốt thật. Cũng sao ấy đứng sai chỗ lại thành hư cát, nghĩa là không những hết tốt mà còn có thể quay hẳn thành xấu, và đây chính là chỗ mọi bảng tra sao trên mạng im lặng. Thái Dương miếu ở Ngọ và Mão nhưng hãm ở Tuất, Hợi, Tí. Thái Dương hãm địa là mặt trời lúc nửa đêm. Vẫn là mặt trời. Không soi được gì.

Bảng đủ bốn trường hợp hư thực, kèm những chỗ chính các bảng miếu hãm mâu thuẫn với nhau, nằm trong bài riêng về miếu, vượng, đắc, hãm.

Phú trong tử vi là gì

Đọc tài liệu tử vi một lúc là bạn đụng phải những câu bốn chữ hoặc bảy chữ, âm Hán Việt, nghe như thơ. Đó là phú, và chúng không phải phần trang trí. Chúng là chỗ chứa toàn bộ luật chơi.

Định nghĩa thì gọn: phú là những định lý làm sẵn về việc sao nào đắc địa hay hãm ở đâu, và về việc từng bộ sao kết hợp với nhau thì thành cái gì. Kèm theo là một câu mà người mới nên đọc kỹ:

Nếu từng sao tách rời thì sao sẽ chẳng mang một ý nghĩa nào hết. Sao phải đi cặp hay đi chùm mới thành cách chánh được.

Câu ấy phủ nhận thẳng cách tra cứu phổ biến nhất hiện nay. Gõ tên một sao, đọc đoạn mô tả của riêng nó, rồi rút kết luận. Theo chính sách gốc thì thao tác đó không cho ra thông tin, vì một sao đứng rời chưa lập thành cách.

Bản thân kho phú cũng có gia phả riêng, và biết gia phả ấy giúp bạn định vị được nguồn mình đang đọc:

Nhóm phú Xuất xứ
Phú Trần Đoàn nằm trong thiên Đẩu số cốt tuỷ phú của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư
Phú Ma Thị có trong sách, nhưng chính Vũ Tài Lục ghi là không rõ xuất xứ
Phú Huỳnh Kim cũng có trong sách và cũng không rõ xuất xứ
Phú nôm Việt Nam phần lớn dịch từ ba nhóm trên, một số ít do kinh nghiệm riêng của tiền nhân ta

Hai dòng giữa đáng chú ý. Ngay trong cuốn sách được coi là gốc, đã có hai nhóm phú mà người dịch không truy được nguồn. Còn dòng cuối cho biết phần lớn những câu phú nôm bạn nghe ở Việt Nam là bản dịch, chứ không phải sáng tác bản địa; phần bản địa thật thì ít, và nằm rải rác.

Nên khi ai đó dẫn “sách có câu”, tôi hỏi lại là sách nào trong bốn dòng trên.

Đọc lá số tử vi theo thứ tự nào

Không đọc theo thứ tự các cung xếp trên giấy, cũng không đọc sao nào trước sao nào tuỳ hứng.

  1. Cung Mệnh trước. Đây là cung gốc, mọi cung khác đều lấy nó làm điểm quy chiếu.
  2. Cung Thân. Nghiêng về nửa đời sau, đọc cùng cung Mệnh chứ không tách rời.
  3. Hai cung tam hợp của Mệnh. Cung Mệnh ở Mão thì tam hợp là Hợi và Mùi.
  4. Cung xung chiếu. Cung đối diện qua tâm địa bàn. Tí đối Ngọ, Sửu đối Mùi, Dần đối Thân, Mão đối Dậu, Thìn đối Tuất, Tị đối Hợi.
  5. Rồi mới tới cung bạn quan tâm, dù là Tài Bạch, Phu Thê hay Quan Lộc.

Phần lớn người tự xem lá số làm ngược lại. Họ nhảy thẳng vào cung Phu Thê vì đang băn khoăn chuyện tình cảm, đọc mấy sao trong đó, rồi kết luận. Cách này cho ra câu trả lời nhanh và gần như luôn sai, vì thiếu mất khung mà cung Phu Thê phải được đặt vào.

Lá số xếp người ta vào những hạng nào

Tử vi cổ điển chia người đời thành mười hạng, gọi là thập đẳng. Đọc danh sách ấy là hiểu ngay môn này coi cái gì mới là đích đến của một đời.

Thứ tự như sau: phúc thọ, thông minh, uy dũng, văn quan, vũ chức, hình danh, phú quý, bần tiện, tật yểu, tăng đạo.

Hai đầu của danh sách mới là chỗ đáng bàn.

Phúc thọ đứng đầu, trên cả phú quý. Giàu sang không bằng phúc thọ, oanh liệt lẫy lừng cũng không bằng. Mà phúc thọ thì được định nghĩa bằng những thứ rất đời thường: bình an, khang kiện, gia đạo yên vui, con cháu nên người, vợ chồng hoà thuận. Nghĩa là thang giá trị của hệ thống này không đặt thành đạt lên cao nhất, mà đặt sự yên ổn kéo dài lên cao nhất.

Tăng đạo đứng chót, dưới cả bần tiện và tật yểu. Chuyện này thoạt nghe rất lạ, vì ngoài đời người tu hành vẫn được kính trọng.

Chỗ này được giải thích bằng lịch sử tư tưởng, và đây là đoạn hay nhất trong cả mục. Các khoa tướng số cực thịnh vào đời Đường và Tống, tức là giai đoạn Nho đạo đã thắng Phật đạo sau một thời gian dài giành vị trí chính lưu. Với nhà Nho, triết lý nhân sinh đẹp nhất luôn là vào đời tranh đấu, còn xuất gia đi ở chùa là điều bị bài bác kịch liệt. Họ xem đường tăng đạo là lối cuối cùng, dành cho người mà số mệnh đã hết đường cứu vãn nên phải đi tu để diệt nghiệp chướng.

Nói cách khác, theo tôi thứ tự mười hạng ấy không phải phát hiện của tử vi về con người. Nó là bảng giá trị của Nho gia đời Đường Tống, được ghi lại trong một cuốn sách bói. Biết vậy thì bạn đọc các lời đoán kiểu “số này chỉ nên vào chùa” theo đúng nghĩa của nó: đó là cách một nhà Nho thế kỷ mười một xếp hạng, không phải một phán quyết về giá trị đời bạn.

Còn một hạng nữa nằm ngoài mười hạng trên, dành cho người buôn bán, kèm mấy câu ca đoán riêng. Chi tiết nhỏ này cho thấy danh sách mười hạng không kín, và nó được vá thêm khi đời sống sinh ra loại người mà bảng cũ chưa có chỗ.

Ba điều ít người biết về lá số tử vi

Điều 1: mọi lời luận đều dựng trên đúng ba thứ.

Một lá số nhìn thì rối, nhưng mọi câu đoán rút ra từ nó đều chỉ dựa vào ba thứ: sao nào, đứng ở cung địa chi nào, và đi cùng ai. Tôi cho rằng nắm được ba trục ấy quan trọng hơn thuộc tên hàng trăm phụ tinh.

Điều 2: thập đẳng luận là bảng giá trị của Nho gia, không phải phát hiện của tử vi.

Mười hạng người mà sách xếp ra kết thúc bằng tăng đạo ở vị trí chót, và Vũ Tài Lục giải thích bằng lịch sử tư tưởng: các khoa tướng số cực thịnh vào đời Đường Tống, giai đoạn Nho đạo đã thắng Phật đạo. Biết vậy thì bạn đọc những lời đoán kiểu số này chỉ nên vào chùa theo đúng nghĩa của nó, và tôi nghĩ đó là cách đọc lành mạnh nhất.

Điều 3: quy tắc chủ khách có điều kiện, không phải luật chung.

Chủ khách cùng tốt hoặc cùng xấu thì khỏi xét cường nhược, đó là nguyên văn; chỉ khi một bên cát một bên hung mới phải cân bên nào mạnh. Tôi giữ nguyên vế điều kiện ấy vì rút gọn nó thành bên nào mạnh hơn thì kéo bên kia theo là mất sạch phạm vi áp dụng.

Chủ và khách trong lá số là gì

Thứ tự đọc ở trên dựa trên một quan hệ gọi là chủ và khách. Cung bạn đang xét là chủ. Các cung tam hợp và cung xung chiếu của nó là khách.

Khi chủ và khách cùng tốt cả, hoặc cùng xấu cả, thì không có gì phải cân nhắc. Chỉ khi một bên tốt một bên xấu mới phải xét bên nào mạnh hơn. Chủ mạnh thì khách theo chủ. Chủ yếu thì khách kéo chủ đi.

Có một trường hợp khiến quy tắc này hiện ra rõ nhất: cung Mệnh không có chính tinh nào, gọi là mệnh vô chính diệu. Lúc ấy chủ không có, phải mượn sao ở cung xung chiếu làm chủ mà luận. Nghĩa là một lá số hoàn toàn có thể được đọc chủ yếu bằng những cung không phải cung Mệnh.

Để ý là quy tắc chủ khách nói ở trên có kèm điều kiện, và điều kiện ấy hay bị đánh rơi khi người ta chép lại. Quy tắc không nói bên mạnh luôn kéo bên yếu. Nó nói chỉ khi một bên cát một bên hung mới phải cân xem bên nào mạnh; còn hai bên cùng tốt hoặc cùng xấu thì khỏi cân. Rút gọn thành “bên nào mạnh hơn thì thắng” là làm quy tắc rộng ra hơn nguyên bản, và người mới sẽ đem áp vào cả những lá số không thuộc diện áp dụng.

Cùng một mạch với câu về phú ở mục trên: một sao đứng rời chưa thành cách, và một cung đứng rời chưa thành câu trả lời.

Nên tôi cho rằng câu hỏi “sao X ở cung Mệnh thì thế nào” không có câu trả lời độc lập. Nó chỉ có câu trả lời khi bạn nói thêm sao đó đứng ở cung địa chi nào, đi cùng ai, và ba cung liên quan có gì.

Câu hỏi thường gặp#

Không biết gì về tử vi thì đọc lá số được không?
Đọc được ở mức nhận ra cấu trúc: 12 cung, cung nào chủ về việc gì, sao nào đóng ở đâu. Phần luận giải cần thêm vị trí miếu hãm và quan hệ giữa các cung, và đó là phần phải học chứ không tra bảng ra được.
Lá số của tôi có sao Thái Dương ở cung Mệnh thì có tốt không?
Chưa trả lời được nếu chỉ biết vậy. Thái Dương miếu ở Ngọ và Mão nhưng hãm ở Tuất, Hợi, Tí, nên còn phải xem nó đóng ở cung địa chi nào, đi cùng sao nào, và cung xung chiếu có gì. Cùng một sao ở hai lá số có thể cho hai kết luận ngược nhau.
Lá số tử vi có bao nhiêu sao?
Tuỳ sách. Bản Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của Trần Đoàn ghi 85 sao, còn sách tử vi truyền lại ở Việt Nam có 104 sao. Phần chênh lệch là các sao như Đào Hoa, Cô Thần, Quả Tú mà bản gốc không có.
Cung nào nên đọc trước?
Cung Mệnh, rồi cung Thân, rồi hai cung tam hợp và cung xung chiếu của Mệnh. Đọc thẳng vào cung Tài Bạch hay cung Phu Thê khi chưa nắm cung Mệnh là đọc ngược.

Nguồn tham khảo#