Cung Phụ Mẫu trong tử vi là gì? Luận giải chi tiết cung Phụ Mẫu và 3 điều ít người biết

Cung Phụ Mẫu là cung đứng liền trước cung Mệnh trên lá số, cho biết cát hung của cha mẹ, duyên phận của mình với cha mẹ và ân huệ nhận được từ họ. Chìa khoá đọc cung này là cặp Thái Dương ứng với cha, Thái Âm ứng với mẹ; Thiên Lương là sao chủ của cung. Toàn Thư đẩy chuyện của cải sang cung Điền Trạch, còn Tân Biên của phái Việt đọc cả giàu nghèo của cha mẹ ngay tại cung này.
Trong 12 cung của một lá số, cung Phụ Mẫu là cung đứng sát ngay cung Mệnh. Nó nói về cha mẹ, nhưng không phải theo cách phần lớn người mới nghĩ.
Cung Phụ Mẫu là gì và nằm ở đâu trên lá số
Cung Phụ Mẫu cho biết ba việc: cát hung của cha mẹ, duyên phận của mình với cha mẹ, và ân huệ mình nhận được từ họ. Đó là định nghĩa gốc, và tôi giữ nguyên thứ tự ba vế ấy vì nó nói lên trọng tâm. Cung này trước hết là chuyện quan hệ. Còn chuyện tài sản có đọc ở đây hay không thì hai sách gốc trả lời khác nhau, tôi để dành cho mục thừa kế.
Về vị trí, nó đóng ở ô liền trước cung Mệnh theo chiều thuận của mười hai địa chi. Mệnh tại Mão thì Phụ Mẫu tại Thìn. Cách gọi cổ là “mệnh tiền nhất cung”, cung thứ nhất phía trước Mệnh, đối lại với cung Huynh Đệ đứng liền sau.
Từ vị trí đó suy ra hai cung tam hợp là Tử Tức và Nô Bộc, còn cung xung chiếu là Tật Ách. Bộ tam hợp này đáng để ý một chút. Tôi đọc ba cung ấy như một trục về những người mình có nghĩa vụ và những người có nghĩa vụ với mình: cha mẹ, con cái, người dưới quyền. Còn Tật Ách chiếu thẳng vào, nghĩa là sức khoẻ và thân thể mình đứng đối diện với gốc sinh ra mình.
Trong bảng xếp hạng cường cung nhược cung, Phụ Mẫu rơi vào nhược cung. Thứ tự xem lá số cổ, cả số nam lẫn số nữ, đều đặt nó ở vị trí thứ chín trong mười hai cung; sau nó chỉ còn ba cung nữa. Nghĩa là theo lối đọc cổ, đây là cung xem gần sau cùng, khi câu hỏi cụ thể chạm tới nó.
Tôi không hoàn toàn đồng ý với cách xếp ấy, và lý do nằm ở mục về đại hạn phía dưới.
Xem cung Phụ Mẫu cần nhìn sao nào trước
Thái Dương và Thái Âm. Trước cả khi nhìn sao nào đang đóng tại chính cung Phụ Mẫu.
Đây là quy tắc đứng đầu mục giải đoán cung này trong Toàn Thư, và nó khác hẳn cách đọc mọi cung khác. Với cung Tài Bạch hay Quan Lộc, bạn tra sao toạ thủ tại cung. Với cung Phụ Mẫu, việc đầu tiên là tìm hai vầng Nhật Nguyệt ở bất kỳ đâu trên lá số. Thái Dương ứng với cha. Thái Âm ứng với mẹ. Sao nào rơi vào hãm cung thì lời đoán cổ gán chuyện mất sớm hoặc ly khắc cho người ấy.
Câu “phàm xem cung Phụ Mẫu cần chú ý đến hai sao Thái Dương và Thái Âm” phải hiểu theo nghĩa rộng nhất: hai sao ấy là cha mẹ dù chúng đóng ở đâu, chứ không chỉ khi chúng ngồi đúng cung Phụ Mẫu. Hai nguồn cùng nói vậy. Tân Biên của Thái Thứ Lang viết thẳng rằng phải xét Nhật Nguyệt tại các vị trí trên bản đồ 12 cung trước, rồi mới xét sao toạ thủ tại cung Phụ Mẫu. Toàn Thư nói cùng ý ở chỗ khác: Thái Dương bị Hình Kị thì dễ hư mắt hoặc khắc phụ mẫu, và câu ấy đặt trong mục luận Thái Dương nói chung, không gắn với cung nào.
Rồi tới quy tắc giờ sinh, chỗ tôi cho là đáng nhớ nhất cả mục. Nếu cả Thái Dương lẫn Thái Âm cùng hãm, không kết luận vội mà lấy giờ sinh mà đoán: sinh ban ngày thì cha còn, sinh ban đêm thì mẹ còn. Logic bên trong khá đẹp. Ban ngày là giờ của mặt trời, sinh vào giờ của mặt trời thì vầng sáng ứng với cha còn được nâng đỡ. Ban đêm ngược lại. Một quy tắc phụ hai dòng mà cứu được cả một lá số khỏi lời đoán nặng nhất.
Quy tắc ấy còn một bậc nữa, ghi trong Tân Biên, và bậc này đổi cả câu hỏi: không hỏi ai còn ai mất, mà hỏi ai mất trước. Sáng tối của Nhật Nguyệt được tính theo vị trí cộng với Tuần Triệt. Thái Dương đóng từ Dần tới Ngọ và Thái Âm đóng từ Thân tới Tí là sáng khi không bị Tuần Triệt án ngữ; đóng ở nửa ngược lại thì gặp Tuần Triệt mới thành sáng. Rồi mới tới giờ sinh, và luật này có cả vế cho trường hợp hai sao cùng sáng: sinh ban ngày thì cha mất trước, sinh ban đêm thì mẹ mất trước. Hai sao cùng mờ ám thì đảo lại, và đảo đúng về kết luận của Toàn Thư. Tôi thích cách hai sách khớp nhau ở đúng chỗ khó nhất ấy, dù một bên là bản kinh điển còn một bên là sách của một người hành nghề ở Sài Gòn năm 1956.
Sao chủ của cung này là Thiên Lương. Hoá khí của nó là Ấm, nghĩa là bóng che, và bài ca về sao này ghi thẳng “Phụ mẫu cung chủ tinh”. Phú nôm của tiền nhân ta cũng chỉ giữ đúng hai câu lục bát về cung Phụ Mẫu, một câu dành cho nó:
Phụ Mẫu cung hội Thiên Lương Mẹ cha đồng hưởng thọ trương an vui
Câu còn lại thì ngược hẳn, và tôi để dành cho mục về sát tinh.
Cung Phụ Mẫu có sao gì thì tốt
Nhóm sao cho phụ mẫu song toàn gồm Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thiên Tướng, cùng Nhật Nguyệt khi chúng đắc địa. Nhóm gây khoảng cách gồm Vũ Khúc, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, và Cự Môn hay Tham Lang khi hãm.
Bảng dưới rút từ mục giải đoán cung Phụ Mẫu, xếp theo 14 chính tinh. Tôi bỏ phần điều kiện sát tinh ra khỏi bảng để dồn vào mục sau, vì gần như dòng nào cũng có cùng một vế ấy.
| Chính tinh tại Phụ Mẫu | Lời đoán nền | Đổi chiều khi |
|---|---|---|
| Tử Vi | không khắc cha mẹ | cùng Phá Quân thì khắc sớm |
| Thiên Phủ | phụ mẫu song toàn | cùng Tử Vi càng tốt |
| Thiên Đồng | độc thủ miếu vượng thì tốt | cùng Cự Môn thì bất hoà với cha mẹ |
| Thiên Tướng | miếu địa thì tốt | cùng Liêm Trinh thì hình khắc |
| Thiên Cơ | miếu địa thì tốt | hãm địa gặp Không Kiếp, Kình Đà thì làm con nuôi |
| Thái Dương | hãm địa thì khắc cha | cùng Thái Âm không bị Kình Đà thì song toàn |
| Thái Âm | miếu vượng thì tốt | cùng Thái Dương không bị Tứ Sát thì song toàn |
| Thiên Lương | sao chủ của cung | hãm địa gặp Tứ Sát thì nặng nhất bảng |
| Vũ Khúc | sớm khắc cha mẹ | xa cha mẹ thì khỏi khắc; cùng Tham Lang hay Thất Sát cũng khỏi |
| Liêm Trinh | khó kế nghiệp cha, có cha mẹ nuôi | cùng Thất Sát thì xa cha mẹ |
| Tham Lang | hãm địa làm con nuôi hoặc ở với dượng | cùng Tử Vi thì tốt |
| Cự Môn | hãm địa thì khắc | cùng Thái Dương thì bất hoà |
| Thất Sát | cô độc | cùng Vũ Khúc khắc, cùng Liêm Trinh hình |
| Phá Quân | sớm xa gia đình mới tránh hình khắc | chỉ Tử Vi giải được |
Dòng tôi muốn bạn dừng lại lâu nhất là dòng Thiên Lương. Nó là sao chủ của cung, phú nôm ca ngợi nó cho mẹ cha đồng hưởng thọ, vậy mà chính nó khi hãm địa gặp Tứ Sát lại nhận lời đoán nặng nhất bảng: vào viện mồ côi, nếu không thì phải đi làm con nuôi mới tránh được hình sát. Cùng một sao, hai đầu thang. Tôi đọc chỗ này như lời nhắc rằng chữ “sao chủ” không phải lời hứa, nó chỉ nói rằng sao ấy nhạy với cung ấy hơn các sao khác, nhạy theo cả hai chiều.
Chi tiết thứ hai đáng để ý là Vũ Khúc. Bản chép lặp câu “cùng Tham Lang hay Thất Sát thì khỏi khắc” hai lần liền nhau rồi mới sang vế sát tinh, rõ ràng là lỗi sao chép. Nhưng phần nghĩa thì đủ rõ: Vũ Khúc tại Phụ Mẫu vốn khắc, và lối ra được ghi ngay trong dòng ấy là xa cha mẹ.
Ba cung xung quanh cũng có vai. Tử Vi tại Phụ Mẫu không khắc và còn giải được cho Phá Quân; Thiên Phủ cho song toàn. Cặp Tử Phủ vốn là hai ngôi tôn, ở cung này chúng làm đúng việc của ngôi tôn là che chở.
Cung Phụ Mẫu gặp sát tinh thì đọc thế nào
Sát tinh là biến số đổi chiều gần như mọi dòng trong bảng trên, và chúng đổi theo một hướng duy nhất: từ song toàn thành bất toàn.
Bốn cái tên lặp lại nhiều nhất là Kình Dương, Đà La, Hoả Tinh, Linh Tinh, gọi chung là Tứ Sát, kèm cặp Địa Không Địa Kiếp. Mỗi sao trong nhóm cũng có lời đoán riêng khi đứng một mình tại Phụ Mẫu:
- Kình Dương: hình khắc sớm.
- Đà La: tuổi trẻ đã hình khắc cha mẹ.
- Hoả Tinh: có khắc, nhưng được cát tinh phù trợ thì bình hoà.
- Linh Tinh: có khắc.
Phụ tinh tốt cũng chỉ tốt khi không có Tứ Sát bên cạnh. Lộc Tồn tại đây là tốt, gặp Tứ Sát thì cha mẹ làm ăn lụn bại lúc mình còn nhỏ. Tả Phù hay Hữu Bật độc thủ thì nhờ được phúc cha mẹ, gặp Tứ Sát thì ly khắc. Văn Xương nhập miếu tốt, gặp Tứ Sát thì làm con hai họ. Nhìn cả loạt, tôi thấy Tứ Sát ở cung này không tạo ra nghĩa mới. Chúng lấy đi phần che chở mà sao chính vừa hứa.
Ba nét chỉ Tân Biên có, và tôi giữ cả ba vì chúng cụ thể. Hoả Tinh và Linh Tinh tại Phụ Mẫu làm giảm thọ cha mẹ, bất kể đóng ở đâu. Thiên Khôi Thiên Việt cho biết cha thường là con trưởng, không thì cũng đoạt trưởng và có danh chức. Còn Tuần Triệt án ngữ cung Phụ Mẫu thì dù cung tốt hay xấu cũng sớm khắc một trong hai thân, và đảo chiều mọi sao trong cung, tốt hoá xấu, xấu thành tốt, khi đọc giàu nghèo sang hèn của cha mẹ.
Cặp Thiên Khốc Thiên Hư có một dòng riêng, và là dòng duy nhất trong cả chương nói tới của cải: Khốc Hư vào cung Phụ Mẫu thì phá của cha mẹ để lại. Tôi sẽ quay lại câu này ở mục thừa kế.
Còn câu phú nôm thứ hai, câu tôi để dành từ trên:
Âm Dương Tuần Triệt tại tiền Mẹ cha ắt đã quy tiên thuở nào
“Tại tiền” là tại cung phía trước Mệnh, tức chính cung Phụ Mẫu. Nhật Nguyệt đóng ở đó mà bị Tuần Triệt án ngữ thì lời đoán nặng nhất: mẹ cha đã mất từ lâu. Đây là chỗ hai lớp nghĩa chập vào nhau. Nhật Nguyệt vốn đã là cha mẹ, lại đóng đúng cung cha mẹ, rồi bị hai vị không vong chặn lại.
Giờ tới chữ quan trọng nhất của cả bài: khắc.
Nếu bạn đọc lướt bảng trên, chữ khắc xuất hiện dày tới mức cung Phụ Mẫu trông như một cung toàn tin dữ. Nhưng đọc kỹ từng dòng thì khắc là một dải nghĩa rộng chứ không phải một kết luận. Nó gồm mất sớm, ly biệt, bất hoà, làm con nuôi, sống với dượng ghẻ, xa nhà. Và ở nhiều dòng, chính lời đoán cổ ghi luôn lối ra: Vũ Khúc xa cha mẹ thì khỏi khắc, Phá Quân sớm xa gia đình mới tránh hình khắc, Liêm Trinh cùng Thất Sát thì xa cha mẹ. Sang Tân Biên thì lối ra ấy thành lời khuyên có hệ thống: gần như mọi dòng xấu ở cung này đều kết bằng nên làm con nuôi họ khác, hoặc nên ở xa cha mẹ.
Tôi đọc những lối ra ấy như thế này. Trong hệ thống này, khắc trước hết là khoảng cách. Khoảng cách địa lý được coi là hình thức nhẹ nhất của khoảng cách, và khi nó đã có mặt thì các hình thức nặng hơn không cần xảy ra nữa. Với người trẻ hôm nay, đi học xa nhà từ mười tám tuổi hay đi làm ở thành phố khác là chuyện thường. Một lá số có Vũ Khúc tại Phụ Mẫu ở một người như thế không nói điều gì đáng sợ. Nó nói đúng cái đã diễn ra.
Tử vi mô tả xu hướng, không mô tả kết quả cố định. Ở cung này câu ấy đúng hơn ở bất kỳ cung nào khác.
Cung Phụ Mẫu có liên quan gì tới đại hạn đầu đời
Với dương nam và âm nữ, cung Phụ Mẫu là cung đại hạn thứ nhất hoặc thứ hai của đời, tuỳ cách khởi hạn của từng phái.
Đây là hệ quả của cách khởi đại hạn theo bản của La Hồng Tiên: dương nam âm nữ khởi từ cung liền trước Mệnh, tức Phụ Mẫu; âm nam dương nữ khởi từ cung liền sau, tức Huynh Đệ. Một phái khác khởi thẳng từ cung Mệnh, và trong Toàn Thư không ai phân xử được phái nào đúng. Phái Việt thì đã chọn: Thái Thứ Lang ghi cả hai cách rồi chốt rằng người ta thường dùng cách khởi từ cung Mệnh vì chính xác hơn.
Tôi không bàn chuyện phái nào đúng ở đây. Điều tôi muốn chỉ ra là phái nào cũng cho cung Phụ Mẫu một sức nặng lớn hơn nhãn “nhược cung” của nó. Theo bản La Hồng Tiên, đại hạn đầu tiên của dương nam âm nữ nằm trọn trong cung Phụ Mẫu, và đại hạn đầu tiên là quãng đời mà đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào cha mẹ. Cung nói về cha mẹ đồng thời là cung nói về tuổi thơ. Hai chuyện ấy khớp nhau không phải tình cờ.
Còn theo cách khởi từ Mệnh mà phái Việt dùng, cung Phụ Mẫu là cung đại hạn thứ hai với dương nam âm nữ vì họ đi thuận, hoặc cung đại hạn cuối cùng với âm nam dương nữ vì họ đi nghịch. Với con trai sinh năm Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm, đó là quãng từ tuổi dậy thì cho tới lúc rời nhà. Trường hợp sau cũng đáng nghĩ: cung cha mẹ khép lại đời mình, đúng lúc mình ở tuổi mà cha mẹ đã không còn.
Nên đây là lý do tôi nói ở đầu bài rằng mình không đồng ý hẳn với hạng nhược cung. Là nhược cung khi bạn hỏi về tiền bạc hay chức nghiệp, đúng. Nhưng khi bạn hỏi những năm đầu đời của một người diễn ra thế nào, không cung nào thay được nó.
Cung Phụ Mẫu có nói về thừa kế không
Tuỳ bạn theo sách nào. Đây là chỗ hai nguồn gốc của tử vi Việt trả lời khác nhau rõ nhất trong cả bài.
Theo Toàn Thư thì không. Của cải cha mẹ để lại đọc ở cung Điền Trạch, và chính phú nôm về cung Điền Trạch nói rõ nơi đọc chuyện ấy:
Triệt Tuần đóng ở cung Điền Tư cơ cha mẹ không truyền đến cho
Tư cơ là cơ nghiệp, của cải. Câu này đặt ở mục Điền Trạch, không phải mục Phụ Mẫu. Toàn bộ mục Phụ Mẫu của bản kinh điển chỉ có đúng một dòng nhắc tới của cải, là dòng Khốc Hư phá của cha mẹ để lại. Còn lại là quan hệ, là duyên phận, là còn hay mất, hoà hay bất hoà, gần hay xa. Hai dòng dễ đọc nhầm thành chuyện tài sản thực ra không phải: Lộc Tồn gặp Tứ Sát là kinh tế gia đình thời thơ ấu, Liêm Trinh khó kế nghiệp cha là chuyện nghiệp chứ không phải của.
Theo Tân Biên thì có. Thái Thứ Lang định nghĩa cung này là nơi xem thọ yểu, giàu nghèo, sang hèn của cha mẹ, rồi mới tới hoà hợp hay xung khắc. Và ông viết thẳng về phần con được hưởng. Tử Vi cùng Thiên Phủ tại Phụ Mẫu thì con được thừa hưởng của cha mẹ để lại rất nhiều. Tham Lang đơn thủ tại Thìn Tuất thì cha mẹ giàu có nhưng con không được thừa hưởng. Lộc Tồn thì hai thân có của nhưng con phá tán mất khá nhiều. Ba dòng, ba tình huống thừa kế khác nhau, viết ngay trong mục Phụ Mẫu.
Tôi không chọn thay bạn, nhưng tôi đọc khoảng cách này như sau. Bản kinh điển tách quan hệ khỏi tài sản thành hai cung. Người hành nghề ở Việt Nam, vốn xem cho những gia đình mà của cải và tình cha con quấn vào nhau, đọc gộp cả hai ở cung cha mẹ, và để Điền Trạch cho phần nhà đất cụ thể. Nếu bạn tra cung Phụ Mẫu để hỏi chuyện thừa kế, hãy biết mình đang dùng cách đọc nào.
Tôi hình dung ba cung chia nhau mảng gia đình như sau:
| Cung | Trả lời câu hỏi |
|---|---|
| Phụ Mẫu | cha mẹ ruột của mình ra sao, mình với họ gần hay xa; theo phái Việt còn cả giàu nghèo của cha mẹ và phần mình được hưởng |
| Phúc Đức | dòng họ, gốc rễ nhiều đời, và theo tiền nhân ta là cả phần mộ ông cha |
| Điền Trạch | nhà cửa, đất đai, và theo Toàn Thư là toàn bộ của cải được truyền lại |
Cột giữa cần một lời chú. Phú nôm về cung Phúc Đức gắn cung ấy với mồ mả tổ tiên rất chặt, còn bản gốc của Trần Đoàn không nói gì tới sự liên hệ ấy. Đó là một chỗ tử vi Việt đi xa hơn bản chữ. Nhưng dù theo bản nào, gốc rễ nhiều đời vẫn nằm ở Phúc Đức, và cung Phụ Mẫu chỉ giữ đúng một đời: cha và mẹ của bạn.
Ba điều ít người biết về cung Phụ Mẫu
Điều 1: cha mẹ được đọc từ Nhật Nguyệt trước, đọc từ cung Phụ Mẫu sau.
Thái Dương là cha, Thái Âm là mẹ, dù hai sao ấy đóng ở đâu. Cả hai cùng hãm thì còn một tầng nữa để xét là giờ sinh: sinh ban ngày thì cha còn, sinh ban đêm thì mẹ còn. Tôi coi đây là quy tắc đáng nhớ nhất về cung này, và cũng là quy tắc hay bị bỏ qua nhất vì nó không nằm trong ô cung Phụ Mẫu.
Điều 2: sao chủ của cung cũng là sao cho lời đoán nặng nhất.
Thiên Lương chủ cung Phụ Mẫu, phú nôm gán nó cho mẹ cha đồng hưởng thọ, nhưng chính Thiên Lương hãm địa gặp Tứ Sát lại là dòng duy nhất trong cả mục nhắc tới viện mồ côi. Tôi đọc chỗ này như một minh hoạ cho cách sao chủ vận hành: nhạy hơn với cung, theo cả hai chiều.
Điều 3: khắc là khoảng cách, và lời đoán cổ tự ghi lối ra.
Vũ Khúc xa cha mẹ thì khỏi khắc, Phá Quân sớm xa gia đình mới tránh hình khắc. Khoảng cách địa lý được coi là dạng nhẹ nhất, và có nó rồi thì các dạng nặng hơn không cần xảy ra. Với người đi học đi làm xa nhà, đây là chỗ nên đọc lại bảng trên bằng con mắt bình tĩnh hơn.
Câu hỏi thường gặp#
- Cung Phụ Mẫu nằm ở đâu trên lá số?
- Ở ô liền trước cung Mệnh theo chiều thuận của 12 địa chi. Mệnh đóng tại Mão thì Phụ Mẫu đóng tại Thìn. Nó tam hợp với cung Tử Tức và cung Nô Bộc, xung chiếu với cung Tật Ách.
- Xem cung Phụ Mẫu cần nhìn sao nào trước?
- Thái Dương và Thái Âm. Thái Dương ứng với cha, Thái Âm ứng với mẹ; sao nào rơi vào hãm cung thì lời đoán cổ gán chuyện mất sớm hoặc ly khắc cho người ấy. Cả hai cùng hãm thì xét giờ sinh: sinh ban ngày thì cha còn, sinh ban đêm thì mẹ còn.
- Cung Phụ Mẫu có nói về tài sản thừa kế không?
- Tuỳ sách. Toàn Thư đọc của cải cha mẹ để lại ở cung Điền Trạch, cung Phụ Mẫu chỉ giữ quan hệ và duyên phận. Tân Biên của Thái Thứ Lang đọc cả giàu nghèo của cha mẹ và phần con được hưởng ngay tại Phụ Mẫu, còn Điền Trạch là nơi đọc nhà đất cụ thể.
- Chữ khắc trong lời đoán về cung Phụ Mẫu nghĩa là gì?
- Là một dải nghĩa rộng: mất sớm, ly biệt, bất hoà, làm con nuôi, sống xa nhà. Chính lời đoán cổ cũng ghi lối ra cho nhiều trường hợp: xa cha mẹ thì khỏi khắc. Nên khắc trước hết nói về khoảng cách, không phải một lời kết tội.
Nguồn tham khảo#
- Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 25, 36-37, 57, 63-64, 86-87, 89, 96, 107)
- Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Sài Gòn 1956 (tr. 20-21, 35-36, 38, 124-131)
- Tử vi đẩu số - Wikipedia tiếng Việt