Tử Vi Việt

Kiến thức tử vi, tướng số và phong thuỷ Việt Nam

Ý nghĩa sao Vũ Khúc tại cung Mệnh. Giải mã 3 hiểu nhầm thường gặp về sao Vũ Khúc

· Đăng · Cập nhật · Chính tinh

Trả lời ngắn

Vũ Khúc là sao thứ sáu của vòm bắc đẩu, thuộc Kim, chủ quản tiền bạc nên được gọi thẳng là tài tinh. Dòng miếu hãm ghi miếu tại Sửu, Mùi, Tuất, vượng tại Tí, Ngọ, bình thường tại Tị, Hợi. Bảy cung được gọi tên, năm cung còn lại bỏ trắng, và không cung nào bị gọi là hãm dù chính sách nhắc tới hãm địa của nó hai lần.

Vũ Khúc là sao có dòng miếu hãm dễ bỏ sót nhất trong 14 chính tinh. Nó tồn tại. Chỉ là nó nằm ở dòng cuối cùng của một danh sách phú, không đứng đầu mục như mười ba sao kia, nên tra vội là trượt.

Và khi tìm ra rồi thì phát hiện nó thiếu một nửa.

Sao Vũ Khúc là gì

Sao thứ sáu trong vòm bắc đẩu, thuộc hành Kim, chủ quản tiền bạc. Vì việc ấy mà trong các câu phú nó thường được gọi thẳng bằng chức danh: tài tinh.

Nó được giao hai việc khác nhau, và lời Trần Đoàn kể cả hai. Trên trời nó coi về tuổi thọ. Vào lá số thì nó chủ quản tài bạch. Hai vai ấy nghe rời nhau, nhưng chúng chập lại ở một chỗ: Vũ Khúc đồng cung với Thiên Phủ thì lời đoán là thọ, chứ không phải là giàu.

Một câu trong phần mô tả tôi thấy đáng nhớ hơn cả bảng tính cách: phúc lộc dễ mà tai ương cũng dễ. Đây là sao biên độ lớn. Nó không đưa người ta tới chỗ tầm thường, nó đưa tới một trong hai đầu.

Sao Vũ Khúc ở cung Mệnh thì tính cách thế nào

Cương cường quả đoán. Chí cương chí nghị, và bản phú nôm mà người dịch mượn về còn thêm phần hình dáng: vóc người nho nhỏ, tính tình thanh cao, khoan dung đại lượng mà vẫn gồm tài lược thao.

Nét đi kèm là hỉ nộ có, tức tình cảm bộc lộ rõ chứ không giấu. Với một sao Kim thì tôi thấy chân dung ấy nhất quán: Kim là thứ cứng và sắc, dùng đúng thì thành công cụ, dùng sai thì thành vết cắt.

Với số nữ, sao này mang thêm một tên khác: quả tú, sao của sự đơn chiếc. Bài phú nôm đọc lớp nghĩa ấy theo lối rất của thời nó, nói người nữ có Vũ Khúc thì tranh quyền với chồng.

Mệnh Vũ Khúc hợp nghề gì

Nghề cầm tiền và nghề cầm quân, và sách nói khá thẳng về cả hai.

Điều kiện Hướng nghề trong lời đoán
Nhập miếu, có Tả Hữu, Xương Khúc võ chức dễ làm lớn; thêm Khoa Quyền Lộc còn giàu sang
Cùng Phá Quân tạo sự nghiệp trong quân lữ
Cùng Thất Sát lập công danh do những trường hợp đặc biệt
Cùng Tham Lang tham ô chi quan
Gặp Lộc Tồn và Thiên Mã phát tài nơi tha hương
Ở Thiên Di buôn bán lớn
Hãm địa, bị Kình Đà Linh Hoả xung phá công danh vô phận

Dòng thứ tư đáng dừng lại vì nó không nói mức mà nói kiểu hỏng. Tham ô chi quan nghĩa là vẫn có chức, vẫn có tiền qua tay, mà dùng sai đường. Với một tài tinh thì đó đúng là kiểu hỏng đặc trưng của nó.

Dịch sang hôm nay thì tôi đọc mạch ấy thành: tài chính, ngân hàng, thương mại, và những vai điều hành cần quyết nhanh. Đây là quy đổi của tôi, không phải chữ trong sách.

Sao Vũ Khúc miếu ở cung nào, hãm ở cung nào

Miếu tại Sửu, Mùi, Tuất, vượng tại Tí, Ngọ, bình thường tại Tị, Hợi. Nguyên văn dòng tổng hợp nằm ở cuối tr. 27.

Mức Cung
Miếu Sửu, Mùi, Tuất
Vượng Tí, Ngọ
Bình thường Tị, Hợi
Hãm không gọi tên cung nào
Không xếp mức Dần, Mão, Thìn, Thân, Dậu
Bản đồ vị trí sao Vũ Khúc qua 12 cung địa bàn: miếu tại Sửu Mùi Tuất, vượng tại Tí Ngọ, bình thường tại Tị Hợi, năm cung Dần Mão Thìn Thân Dậu sách không ghi và không cung nào bị xếp hãm
Năm ô để trắng không phải lỗi vẽ. Dòng tổng hợp tại tr. 27 không nói gì về chúng, và cũng không gọi tên cung hãm nào. Theo Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư.

Bảy trên mười hai cung được gọi tên. Năm cung còn lại im lặng. Và cột hãm trống hoàn toàn, dù ngay trang trước lời Trần Đoàn đã viết Vũ Khúc rất sợ bị kiềm chế lạc hãm.

Về thứ bậc miếu vượng đắc hãm thì đây là một cột trống, không phải một khẳng định rằng sao này vô hãm địa. Tôi giữ ranh giới đó rất chặt, vì hai thứ khác nhau.

Chỗ trống ấy được các chương khác vá vào, và có chỗ vá ngược lại:

Chỗ Thìn đáng dừng lại, vì nó suy được bằng ngũ hành. Sửu, Mùi, Thìn, Tuất là tứ mộ, đều thuộc Thổ. Vũ Khúc thuộc Kim, mà Thổ sinh Kim. Ba cung mộ kia đều được xếp miếu thì việc thiếu đúng một cung Thìn là bất thường về mặt logic của chính hệ thống. Tôi ngờ chữ Thìn đã rơi khỏi dòng ấy trong quá trình truyền bản, nhưng đó là suy luận, không phải chữ trong sách, và bạn nên giữ nguyên ranh giới đó khi luận.

Sao Vũ Khúc tốt hay xấu

Biên độ của nó lớn hơn phần lớn chính tinh, đúng như câu phúc lộc dễ mà tai ương cũng dễ.

Đi cùng Lời đoán
Lộc Tồn, Thiên Mã phát tài, và thường là phát ở xa quê
Thái Âm hợp, sách ghi Vũ Khúc ưa sao này
Thiên Phủ, Thiên Lương hai sao trợ lực chính
Thiên Tướng, thêm Xương Khúc thông minh lanh lợi; ở cung Quan thì trấn thủ biên cương
Tham Lang thiếu niên bất lợi, nhưng về sau là quý cách
Phá Quân phá tổ phá gia, tiền đến tay là hết
Thất Sát, Hoả Tinh đồng cung vì tiền bạc mà bị hại
Kình Dương, Đà La cô khắc
Liêm Trinh cách tài dữ tù cừu, tài tinh gặp tù tinh
Không Vong, ở Tài Bạch tối kị

Sao Hoả Tinh trong bảng này cư xử lạ, và tôi cho rằng đây là chỗ dễ đọc sai nhất. Vũ Khúc đồng cung Thất Sát mà gặp Hoả Tinh thì vì tiền mang hoạ. Nhưng Vũ Khúc ở cung Phúc Đức gặp Hoả Linh lại được ghi là tốt, còn ở cung Điền Trạch gặp Hoả Linh thì sách chép thẳng là cực tốt. Cùng một sát tinh, đảo cung là đảo dấu.

Cách Tham Vũ đồng hành là gì

Là cặp Vũ Khúc đi với Tham Lang, và đây là chỗ hai truyền thống nói ngược nhau.

Người có cặp này được tả là nhỏ nhắn, thanh cao, mà độ lượng lớn. Đó là câu phú chữ Hán. Bài phú nôm Việt Nam lại rút gọn thành một câu rất khác: “Vũ Tham người nhỏ là phường tham lam”. Người dịch không để yên chỗ đó; ông ghi thẳng rằng bản nôm dịch sai hai chữ lượng đại, vì Tham Vũ đồng hành vốn là quý cách.

Cơ chế của quý cách ấy nằm ở ngũ hành, và nó cụ thể hơn phần lớn cách cục khác. Khi hai sao đồng cung tại Sửu hoặc Mùi, Vũ Khúc thuộc Kim khắc Tham Lang thuộc Mộc. Mộc bị khắc mà gặp chế hoá thì thành hữu dụng, nên lời đoán là tiên bần hậu phú: trước nghèo, sau mới giàu sang. Thêm Tả Hữu Khoa Quyền Lộc xung chiếu thì còn lên tới quyền quý.

Tôi rút ra một bài học rộng hơn một cặp sao. Khi một câu phú nôm và một câu phú chữ nói ngược nhau, chỗ đáng tin hơn thường là chỗ giải thích được bằng cơ chế, chứ không phải chỗ nghe xuôi tai hơn.

Sao Vũ Khúc ở các cung khác thì đọc ra sao

Cung Lời đoán
Tài Bạch đúng vai nhất, nhưng tối kị Không Vong
Thiên Di cần tĩnh thủ, đừng lật đật lúc cấp bách
Phu Thê dễ bội khắc nên thành hôn muộn, nên lấy người bằng tuổi
Phúc Đức nhập miếu an nhiên hưởng phúc; gặp Hoả Linh lại tốt
Điền Trạch đơn cư vượng địa thì hưởng di sản lớn; gặp Hoả Linh cực tốt
Nô Bộc miếu địa thì hô một tiếng cả trăm người thưa
Tật Ách tai ương sớm, tay chân đầu mặt dễ bị sẹo

Dòng Thiên Di có một câu khuyên hiếm thấy, vì nó nói về cách hành xử chứ không nói về kết quả: đối phó với bên ngoài cần tĩnh thủ, đừng lật đật lúc cấp bách. Sao của tính quả quyết được dặn phải chậm lại, và tôi thấy đó là lời khuyên dùng được ngay.

Hạn gặp sao Vũ Khúc thì thế nào

Tôi đọc hạn của sao này theo mức, không theo tên sao.

Đại hạn hay tiểu hạn gặp Vũ Khúc nhập miếu thì tiền tài hưng vượng, thêm Văn Xương và Tả Hữu thì phúc lộc song toàn. Hạn có Vũ Khúc kèm Hoá Quyền thì cầu mưu việc gì cũng thành.

Hãm địa thì lời đoán chia theo thân phận, và chia khá cụ thể: người làm công chức dễ gặp rắc rối về hình phạt, dân thường hay mắc nợ, kẻ quyền quý thì lo âu. Ba nhóm, ba kiểu hỏng, cùng một gốc là tài tinh mất đất.

Có một cách tên là Linh Xương Đà Vũ, gồm Linh Tinh, Văn Xương, Đà La và Vũ Khúc gặp nhau ở hạn, và đây là một trong những câu nặng lời nhất cả cuốn sách. Bạn sẽ gặp nó nếu đọc sâu nên biết trước thì hơn, và cũng nên nhớ lập trường đọc số ở đây: tử vi mô tả xu hướng, không mô tả kết quả cố định. Một bộ sao xấu ở hạn là chỗ để cẩn trọng, không phải một bản án.

Ba hiểu nhầm thường gặp về sao Vũ Khúc

Ba chỗ dưới đây tôi xếp theo mức hay gặp.

Hiểu nhầm 1: Tài tinh nghĩa là giàu.

Vũ Khúc chủ quản tiền bạc, nghĩa là chuyện tiền của lá số đi qua nó, chứ không nghĩa là có nó thì giàu. Vũ Khúc gặp Phá Quân vẫn là tiền vào tay phải ra tay trái, và ở Tài Bạch mà gặp Không Vong thì lời đoán là tối kị. Chủ quản một việc khác với bảo đảm kết quả của việc ấy.

Hiểu nhầm 2: Vũ Tham là phường tham lam.

Câu ấy đến từ một bài phú nôm, và chính người dịch chấm là dịch sai hai chữ lượng đại. Nguyên văn chữ Hán khen cặp này độ lượng lớn, và cơ chế ngũ hành giải thích được vì sao nó thành quý cách. Câu nôm dễ thuộc hơn nên lan xa hơn, mà lan xa không có nghĩa là đúng.

Hiểu nhầm 3: Sách không nêu hãm địa nghĩa là sao này vô hãm địa.

Đây là chỗ dễ mắc nhất, và nó khác hẳn trường hợp Tử Vi hay Thất Sát vốn có câu khẳng định vô hãm địa hẳn hoi. Với Vũ Khúc thì sách không nói gì, mà không nói gì là một cột trống chứ không phải một khẳng định. Bằng chứng ngược nằm ngay trang trước: lời Trần Đoàn ghi nó rất sợ bị kiềm chế lạc hãm.

Sao duy nhất còn lại cũng có bảng tra khuyết là Thiên Cơ, nhưng khuyết theo kiểu ngược hẳn: Vũ Khúc thiếu chữ, còn Thiên Cơ thì thừa tới bốn bảng chỏi nhau.

Câu hỏi thường gặp#

Sao Vũ Khúc ở cung Mệnh thì tính cách thế nào?
Cương cường quả đoán, chí cương chí nghị. Kèm theo là một câu đáng nhớ hơn cả bảng tính cách: phúc lộc dễ mà tai ương cũng dễ. Đây là sao biên độ lớn, nó không đưa người ta tới chỗ tầm thường mà đưa tới một trong hai đầu.
Mệnh Vũ Khúc hợp nghề gì?
Nhập miếu có Tả Hữu, Xương Khúc thì ở võ chức dễ làm lớn, thêm Khoa Quyền Lộc còn giàu sang. Đi cùng Phá Quân thì tạo sự nghiệp trong quân lữ. Gặp Lộc Tồn và Thiên Mã thì phát tài nơi tha hương.
Sao Vũ Khúc miếu ở cung nào?
Miếu tại Sửu, Mùi, Tuất; vượng tại Tí, Ngọ; bình thường tại Tị, Hợi. Dòng này nằm ở cuối trang 27 của Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư. Năm cung Dần, Mão, Thìn, Thân, Dậu không được xếp mức nào.
Sao Vũ Khúc có hãm địa không?
Có, nhưng sách không liệt kê. Lời Trần Đoàn nói Vũ Khúc rất sợ bị kiềm chế lạc hãm. Chương khác thì xếp Vũ Khúc tại Thân vào hạ cách và tại Tị vào diện hạ tiện bần cùng, dù dòng tổng hợp gọi Tị là bình thường.

Nguồn tham khảo#

  • Hi Di Trần Đoàn, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, Vũ Tài Lục dịch và bình chú, Ngân Hà Thư Xã (tr. 26-27, 63, 66, 77-90, 98, 109, 118, 139, 147, 149, 152-159)
  • Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí (bài phú nôm về Vũ Khúc, dẫn lại trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư tr. 27)